Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Huyền.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Hỏi đáp pháp luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê.

Hỏi về trợ cấp khi bị công ty chấm dứt hợp đồng lao động

 Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13

Luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 của Quốc hội

 Nội dung tư vấn:

Điều 38 Bộ luật lao động quy định về quyền đơn phương chấm dứt lao động của người sử dụng lao động như sau:

"1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này."

Như vậy, dựa theo quy định trên, người sử dụng lao động chỉ được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi có một trong các căn cứ trên. Còn trong trường hợp của bạn, công ty lấy lý do là "công việc không phát sinh" để chấm dứt hợp đồng lao động là không đúng quy định của pháp luật. Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động mà không theo quy định tại Điều 38 như trên thì bị coi là đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Như vậy, việc công ty cho bạn nghỉ việc với lý do như trên là không đúng quy định của pháp luật.

Theo đó, hậu quả pháp lý khi người sử dụng đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật được Bộ luật Lao động quy định tại Điều 42 như sau:

"1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động."

Theo như quy định trên, nếu như thời điểm hiện tại bạn vẫn muốn được tiếp tục làm việc ở công ty này  thì bạn có quyền yêu cầu người sử dụng lao động phải nhận mình lại tiếp tục làm việc ở vị trí cũ, nếu không còn vị trí này thì bạn sẽ phải được công ty thương lượng để sắp xếp 1 công việc khác, đồng thời ngoài tiền trợ cấp thôi việc thì công ty còn phải trả cho bạn khoản tiền bồi thường bao gồm: tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày bạn bị cho nghỉ và cộng với ít nhất 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.  Nếu công ty không thực hiện, bạn có thể làm đơn yêu cầu hòa giải viên lao động ở cơ sở giải quyết, trường hợp nếu hòa giải viên không giải quyết được thì bạn có quyền được làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án có thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại Điều 33 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2004 thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp về lao động trong trường hợp này thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện. Vì vậy, khi không thể thỏa thuận với người sử dụng lao động, bạn có quyền làm đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của công ty.

Trường hợp bạn không muốn tiếp tục làm ở công ty này nữa thì ngoài các khoản tiền: tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày bạn bị cho nghỉ và cộng với ít nhất 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động thì bạn còn được nhận thêm tiền trợ cấp thôi việc. Theo quy định của pháp luật, người lao động chỉ được nhận một trong hai loại trợ cấp thôi việc hoặc mất việc. Vì trong trường hợp này bạn đã được người sử dụng lao động trả trợ cấp thôi việc thì sẽ không được trả thêm tiền trợ cấp mất việc nữa. Còn vấn đề về tiền mà công ty nói bán sẽ nhận được ở Sở Lao động, Thương binh và Xã hội chi trả không phải là trợ cấp mất việc, mà là tiền bảo hiểm xã hội khi bạn bị thất nghiệp, không liên quan gì đến nghĩa vụ phải trả trợ cấp thôi việc của công ty cho bạn

Như vậy, khi công ty không thực hiện các nghĩa vụ như chúng tôi đã trình bày ở trên, thì bạn có quyền làm đơn gửi Hòa giải viên lao động ở Sở Lao động, thương binh và xã hội, nếu Hòa giải viên lao động không thể tiến hành hòa giải được, thì bạn hoàn toàn có quyền làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi!

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật lao động.