Trong quá trình làm việc, tôi thấy công việc và hoàn cảnh gia đình (vợ mang thai) không phù hợp với tôi nữa nên tôi làm đơn xin thôi việc gửi lên lãnh đạo công ty nhưng cty không nhận. Do vậy tôi vẫn tiếp tục làm việc tại công ty. Nhưng sau đó công ty cho gọi tôi lên, lập biên bản buộc tôi chấm dứt công việc tại công ty, yêu cầu tôi bàn giao công việc, thực hiện bồi thường các cam kết đã ký. Công ty còn lập biên bản giữ các tài sản thuộc sở hữu của tôi (01 xe máy, laptop, quần áo, tất cả đều thuộc quyền sở hữu chính chủ của tôi) buộc tôi thực hiện xong cam kết mới trả. Hiện giờ công ty còn chưa thanh toán cho tôi 02 tháng lương trước khi lập biên bản buộc thôi việc tôi.

Vậy tôi xin nhờ công ty luật giải đáp giúp tôi 1 số vấn đề như sau:

1. Các bản cam kết tôi viết theo mẫu của công ty có đúng với tinh thần của bộ luật dân sự cũng như luật lao động hiện hành không. Tính pháp lý của nó có giá trị thực hiện không ?

2. Công ty thực hiện lập biên bản yêu cầu tôi chấm dứt công việc như thế có đúng không. Tôi có phải thực hiện bồi thường theo cam kết đã viết không ?

3. Tôi phải làm gì với các vấn đề nêu trên ?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi : NGUYỄN HỮU NAM

 

Luật sư trả lời:

1. Các bản cam kết tôi viết theo mẫu của công ty có đúng với tinh thần của bộ luật dân sự cũng như luật lao động hiện hành không?

Chúng tôi có thấy bạn đề cập đến 2 bản cam kết khi ký hợp đồng lao động, Bộ luật lao động không hề quy định khi giao kết hợp đồng lao động thì người lao động phải ký cam kết bởi nguyên tắc của hợp đồng là tự nguyện, bình đẳng và không trái pháp luật. Vì chưa biết nội dung của cam kết như thế nào nên chưa thể đánh giá là đúng hay sai. Tuy nhiên, nếu trong cam kết có những điều khoản hạn chế quyền lợi của bạn (ví dụ: như bạn nói: khi bị công ty cho nghỉ việc thì bạn phải bồi thường...) hoặc yêu cầu cam kết sai quy định pháp luật lao động thì cam kết bị vi phạm.

2. Công ty thực hiện lập biên bản yêu cầu tôi chấm dứt công việc như thế có đúng không. Tôi có phải thực hiện bồi thường theo cam kết đã viết không?

Việc công ty lập biên bản chấm dứt có thể nói là sai quy định của luật, tại điều 38 BLLĐ quy định như sau:

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Ở đây, công ty bắt buộc phải chứng minh được lý do chấm dứt hợp đồng như khoản 1 nêu trên; và thứ hai là với hợp đồng lao động của bạn thì công ty muốn đơn phương phải thông báo trước 45 ngày- chứ không phải vừa thông báo đã yêu cầu nghỉ luôn.

Khi công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì họ sẽ phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường lương cho bạn, còn bạn không có nghĩa vụ bồi thường gì cho công ty cả.

Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Hơn nữa, việc công ty giữ các tài sản thuộc sở hữu (01 xe máy, laptop, quần áo) của bạn cũng là điều hoàn toàn không được phép, bởi chỉ có bạn là chủ sở hữu mới có quyền: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, Kể cả khi họ là người sử dụng lao động cũng không được phép.

Trong tình huống này, trước hết bạn có thể nộp đơn khiếu nại lên Ban Giám đốc công ty yêu cầu giải quyết quyền lợi đúng pháp luật lao động khi công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng, Đồng thời yêu cầu công ty trả lại toàn bộ tài sản.

Trường hợp công ty không giải quyết bạn có quyền khiếu nại lên cơ quan quản lý lao động nơi công ty có trụ sở để được giải quyết. Với việc công ty cố tình giữ tài sản của bạn, không trả lại bạn có thể trình báo ra cơ quan công an.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900 6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê