1. Hướng dẫn cách khởi kiện đòi tiền lương, bảo hiểm xã hội và tiền trợ cấp thôi ?

Thưa luật sư, Chúng tôi đã xin nghỉ việc theo đúng quy định của bộ luật lao động năm 2012 nhưng công ty tìm mọi cách trì hoãn trả tiền lương, trả sổ bảo hiểm và trợ cấp thôi việc. Xin hỏi Chúng tôi phải làm sao ạ ?
Xin cảm ơn!

Hướng dẫn cách khởi kiện đòi tiền lương, bảo hiểm xã hội và tiền trợ cấp thôi việc theo đúng quy định ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động về tiền lương, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi của mình đến Công ty Luật Minh Khuê. Đối với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Về cơ chế giải quyết tranh chấp lao động

Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Lao động 2012 , Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động. Như vậy, khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có nghĩa vụ thanh toán các khoản lương, thanh toán bằng tiền cho những ngày nghỉ hàng năm mà người lao động chưa nghỉ hết, trợ cấp, trả lại sổ bảo hiểm xã hội, giấy tờ khác đã giữ cho người lao động trong thời hạn pháp luật quy định. Người lao động cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nếu có.

Trong trường hợp của các bạn, đã hơn 03 tháng công ty chưa thanh toán các khoản tiền lương, trợ cấp mất việc, trả số bảo hiểm xã hội. Như vậy, công ty đã không thực hiện các quy định của pháp luật bắt buộc phải làm khi chấm dứt hợp đồng lao động. Trong tranh chấp này, cá nhân mỗi người lao động trong các bạn đều cho rằng công ty không thực hiện đúng quy định của pháp luật, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của cá nhân mình. Đây được xác định là tranh chấp lao động cá nhân. Trong đó, bên sử dụng lao động là Tổng công ty chứ không phải chi nhánh, bởi chi nhánh chỉ là bộ một bộ phận trực thuộc và do Tổng công ty thành lập, không độc lập trong hoạt động. Hợp đồng lao động được xác lập là hợp đồng giữa các bạn là người lao động với Tổng công ty.

Để giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, Bộ luật Lao động 2012 có các cơ chế giải quyết như sau:

"Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
1. Hoà giải viên lao động.
2. Toà án nhân dân."

Tranh chấp lao động cá nhân bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi khởi kiện ra toà án, trừ các trah chấp sau:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Như vậy, các bạn có thể cùng viết đơn yêu cầu hòa giải viên lao động tiến hành hòa giải vụ việc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc hòa giải thành nhưng bên phía công ty không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì các bạn có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Viết đơn đề nghị hòa giải lên Công đoàn Tổng công ty cũng là một phương pháp để giải quyết tranh chấp nhưng mang tính chất nội bộ và không mang tính bắt buộc. Giải quyết tranh chấp thông qua cơ chế hòa giải này có những thuận lợi và khó khăn riêng. Trường hợp hòa giải do Công đoàn Tổng công ty tiến hành không đảm bảo được quyền lợi như mong muốn thì các bạn viết đơn đề nghị hòa giải đến hòa giải viên lao động để có thể hòa giải lần nữa cũng như thực hiện thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện ra tòa án.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết và thủ tục khởi kiện

Để xác định tòa án nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên chúng ta căn cứ vào các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 :

"Điều 31. Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, hòa giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hòa giải tại cơ sở:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động; về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

....

Điều 33. Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

1. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:...

c) Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này.....

Điều 35. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

c) Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản....

Điều 36. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:...

đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;..."

Căn cứ các quy định tại Điều 200 Bộ luật Lao động 2012 , khoản 1 Điều 31 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 (sửa đổi bổ sung bởi Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 ), đây là tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động nên thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 33 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 , vì đây là tranh chấp thuộc khoản 1 Điều 31 của Bộ luật thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện. Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 , do đây là tranh chấp về tiền lương, trợ cấp, nên các bạn có quyền lựa chọn tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đóng trụ sở hoặc tòa án nhân dân cấp huyện nơi các bạn cư trú để khởi kiện.

Để tiến hành khởi kiện ra tòa án, bạn phải viết đơn khởi kiện gửi đến tòa án có thẩm quyền như đã phân tích ở trên. Các bạn có quyền viết một lá đơn khởi kiện đối với công ty vì các quan hệ pháp luật mà mỗi người lao động trong các bạn tham gia đều có liên quan và giải quyết được trong cùng một vụ án (khoản 2 Điều 163 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 ). Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 quy định về hình thức đơn khởi kiện như sau:

"Điều 164. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

A) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

B) Tên Toà án nhận đơn khởi kiện;

C) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

D) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

Đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;

E) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

G) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

H) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;

I) Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;

K) Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án;

L) Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn."

Các bạn có thể nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại tòa án hoặc gửi qua đường bưu điện. Sau khi tòa án nhận đơn khởi kiện thì sẽ gửi thông báo về số tiền tạm ứng án phí. Sau khi các bạn nộp tiền tạm ứng án phí cho tòa án thì tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ án, mở phiên tòa sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục do pháp luật quy định.

Bài viết dựa trên những căn cứ vào thông tin thực tế bạn cung cấp, nếu thấy rằng bài viết chưa sát với thực tế trường hợp của bạn hãy phản hồi với chúng tôi và cung cấp thêm thông tin để có thể được tư vấn chính xác. Và để được tư vấn cụ thể hơn, cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể liên hệ với tổng đài 1900.6162 của công ty Luật Minh Khuê để được tư vấn một cách đầy đủ nhất. Trân trọng!

2. Tư vấn về tiền lương ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Tôi làm việc cho công ty A với mức lương 8,5tr, thử việc 2 tháng với mức 85% ( 7,2tr). Tôi làm việc từ ngày 23/09/2013 đến ngày 12/11/2013 thì công ty ngưng hợp tác với tôi.

Tôi đã nhận lương 7,2tr của tháng 10 nhưng phần lương các ngày còn lại, cụ thể 23/09 - 30/09/2013 và 01/11 -12/11/2013 tôi vẫn chưa được tính và không biết tính như thế nào cho đúng quy định pháp luật ?
Trong HĐ thử việc quy định giờ làm việc chính thức là 44h/ tuần, 8h/ngày Nếu tính theo cách 7 200 000/ 26 ngày = 277 000 vnđ/ ngày, thì 23/09 -
30/09/2013 và 01/11 -12/11/2013 được tính là bao nhiêu ngày ?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: NH Anh Dũng

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Xin chào! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê! Vấn đề của bạn xin được trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý

- Hợp đồng thử việc

- Quy chế lương, thưởng của doanh nghiệp

2. Nội dung phân tích

Thực tế doanh nghiệp áp dụng 1 trong 2 cách tính lương như sau:

Cách 1: Lương tháng = Lương hợp đồng : số ngày công lao động chuẩn tháng của doanh nghiệp áp dụng x số ngày công lao động thực tế

Cách 2: Lương tháng = Lương hợp đồng : số ngày công lao động chuẩn của tháng x số ngày công lao động thực tế

Trong đó:

- áp dụng cách tính nào sẽ căn cứ vào quy chế lương tthưởng của doanh nghiệp hoặc hợp đồng lao động, hợp đồng thử việc, tùy vào cách áp dụng sẽ cho ra các kết quả khác nhau;

- Số ngày công làm việc thực tế có thể xem trong bảng chấm công;

- Số ngày công lao động chuẩn của tháng có thể là 27, 26, 25 tùy vào tổng số ngày trong tháng và số ngày nghỉ trong tháng.

- Số ngày công lao động chuẩn tháng mà doanh nghiệp áp dụng có thể là 26, 24,...áp dụng cho tất cả các tháng trong năm.

Nếu doanh nghiệp bạn áp dụng số ngày công chuẩn của tháng cố định là 26 thì doanh nghiệp đang thực hiện cách tính lương thứ 1.
Theo đó:

- Lương tháng theo hợp đồng : 7,2 triệu

- Số ngày công chuẩn doanh nghiệp: 26

- Số ngày công thực tế làm việc: căn cứ bảng chấm công của công ty

Nếu như bạn không thể theo dõi số ngày công của bạn trên bảng chấm công thì bạn có thể tính số ngày công làm việc của bạn theo phương pháp sau:

Theo thỏa thuận tại hợp đồng thử việc thì thời gian làm việc của bạn là 44h/tuần, 8h/ngày, tương đương với làm việc 5,5 ngày, mức lương 7,2 triệu. Nếu doanh nghiệp áp dụng 26 ngày công/tháng làm ngày công chuẩn của 1 tháng, thời gian 44h/tuần, 8h/ngày thì trong một tuần sẽ có một ngày công bạn chỉ cần đi làm đủ 4h, một ngày công của bạn được trả là 7.200.000/26 = 277.000 (vnđ/ngày).

Từ ngày 23/09/2013 - 30/09/2013 có 8 ngày, trong đó có 1 ngày thứ bảy, 1 ngày chủ nhật. Từ ngày 01/11/2013-12/11/2013 có 12 ngày, trong đó có 2 ngày thứ bảy và 2 ngày chủ nhật.

Nếu bạn đi làm đầy đủ thì thời gian từ 23/09-30/09 bạn sẽ được chấm 7 ngày công, từ 01/11-12/11 bạn sẽ được tính 10 ngày công. Tổng ngày công là 17.

Lương được trả trong thời gian 23/09 - 30/09 và 01/11 - 12/11 là:

17 ngày công x 277.000 = 4. 709.000 (vnđ)

Vậy, nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính lương trên cơ sở áp dụng 26 ngày công lao động cho tất cả các tháng thì lương bạn sẽ nhận được là 4. 709.000 (vnđ)

Trân trọng!

3. Trả lương trong trường hợp ngừng việc ?

Trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau: 1- Nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền lương;

Trả lương trong trường hợp ngừng việc ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7), gọi: 1900.6162

2- Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu;

3- Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc vì những nguyên nhân bất khả kháng, thì tiền lương do hai bên thoả thuận, nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu.

Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay dịch vụ pháp lý: Luật sư tư vấn pháp luật lĩnh vực luật lao động;

4. Không được trả lương, người lao động có thể lấy tài sản công ty?

Chào luật sư! cho em hỏi là em đã làm việc ở 1 công ty 5 tháng nhưng không được ký hợp đồng lao động dù nhiều lần em có trình bày với công ty nhưng họ né tranh. Và giờ họ không chiu trả lương cho em và một số người khác mà còn hẹn một tháng sau mới trả, giờ em và mấy anh chị muốn lấy tài sản công ty ngang mức tiền lương thì có trái luật lao động không?
Mong sớm nhận được phản hồi của luât sư. em xin cảm ơn ạ!
Tên khách hàng: Nguyễn.T.T. Ly

Không ký hợp đồng, người lao động không được trả lương

Tư vấn pháp luật lao động: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn gửi thắc mắc đến Luật Minh Khuê. Về yêu cầu của bạn, Luật Minh Khuê xin được giải đáp như sau:

Về nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động, Điều 18, Bộ luật lao động 2012 quy định như sau :

"1. Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động.

Trong trường hợp người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động.

2. Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản; trường hợp này hợp đồng lao động có hiệu lực như giao kết với từng người."

Như vậy, việc bạn làm việc 5 tháng mà công ty không tiến hành giao kết hợp đồng đang không thực hiện nghĩa vụ được nêu ở trên.

Với hành vi này, công ty có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1, điều 5 nghị định 95/2013/NĐ-CP với mức như sau :

"1. Phạt tiền người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc cố định có thời hạn trên 3 tháng; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên."

Về nghĩa vụ trả lương, theo quy định tại điều 96 Bộ luật lao động 2012 :

"Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn. Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương."

Với việc công ty không trả lương cho người lao động, công ty có thể bị xử phạt theo khoản 3, 4, 5 điều 13 nghị định 95/2013/NĐ-CP với mức như sau:

"3. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Lao động; trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện; trả lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm cho người lao động thấp hơn mức quy định tại Điều 97 của Bộ luật Lao động; khấu trừ tiền lương của người lao động trái quy định tại Điều 101 của Bộ luật Lao động; trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định tại Điều 98 của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

4. Phạt tiền người sử dụng lao động trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định theo các mức sau đây:

a) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người lao động trở lên.

5. Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với người sử dụng lao động có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều này.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc trả đủ tiền lương cho người lao động theo quy định đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này;

b) Buộc trả khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả cho người lao động tính theo lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều này.

Nếu công ty vi phạm các nghĩa vụ trên thì bạn cũng không có quyền lấy tài sản của công ty ngang với mức tiền lương vì rất có thể sẽ cấu thành tội phạm, ví dụ như tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 hoặc tội công nhiên chiếm đoạt tài sản tùy thuộc vào dấu hiệu hành vi của bạn.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, theo quy định của pháp luật lao động, bạn có thể khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động ( Phòng lao động thương binh xã hội ) hoặc khiếu nại, tố cáo đến thanh tra lao động để giải quyết. Vì 2 cơ quan này có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy định tại điều 235, điều 237 Bộ luật lao động 2012. Nếu sau khi gửi đơn đến 2 cơ quan trên tiến hành giải quyết mà công ty vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ, hoặc bạn thấy quyết định của họ chưa thỏa đáng thì bạn cũng có thể gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Trân trọng./.

5. Lương làm thêm giờ và lương làm vào đêm ?

Chào công ty Luật Minh Khuê, Tôi đang làm việc tại doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài. Trên hợp đồng lao động có ký kết là 8h/1ngày, 48h/tuần ( Nghỉ chủ nhật ). Do đặc thù công ty ít việc nên có cho nghỉ thêm các ngày thứ 7. Vậy nếu ngày thứ 7 mà 1 mình cá nhân tôi phải đi làm tăng ca ngoài giờ hành chính từ 17h đến 23h ngày thứ 7 sẽ được tính như thế nào?
Xin chân thành cảm ơn.

Chế độ nghỉ giữa giờ giữa người làm công việc độc hại ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.6162.

Luật sư tư vấn:

Hợp đồng ghi nhận 48h/ tuần, 8h/ngày, tức là 1 tuần nhân viên công ty phải làm 6 ngày. Hợp đồng cũng ghi nhận ngày nghỉ cố định vào chủ nhật. Như vậy, ngày thứ 7 là ngày làm việc bình thường và người lao động vẫn được hưởng nguyên lương nếu không có thỏa thuận khác. Việc bạn làm tăng ca sẽ được tính thêm.

Điều 97 Bộ luật lao động quy định:Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm (Bộ luật lao động 2012)

1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm như sau:

a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;

b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;

c) Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

2. Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.

3. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

Điều 105 Bộ luật lao động quy định: Giờ làm việc ban đêm

Giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau.

Vậy, thời gian từ 17h đến 22h bạn được hưởng 150% lương vào những ngày thường. Còn thời gian từ 22h đến 23h thì ngoài tiền lương 150% còn áp dụng cả khoản 2 khoản 3 điều 97 ở trên.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn về việc làm thêm giờ nhưng không được trả lương ?

6. Thời điểm hưởng lương theo hệ số lương mới ?

Thưa luật sư! Em bắt đầu ký hợp đồng vào trung tâm của tổng cục quản lý đất đai từ ngày 05/0/2012 đến ngày 05/10/2015 trung tâm mới cho em chuyển ngạch, hệ số lương đầu tiên là 1,86 đến tháng 10/2014 em được hưởng 2,06 . Hiện tại bằng đại học của em được lấy từ 10/2012. Cho em hỏi bây giờ em làm chuyển ngạch lên 2,34 thì thời điểm được nâng lương 2,86 được tính bắt đầu thời gian nào?
Em xin chân thành cảm ơn.

Thời điểm hưởng lương theo hệ số lương mới ?

Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ điểm a khoản 1 Mục II Thông tư 02/2007/TT-BNV Hướng dẫn xếp lương khi nâng ngạch, chuyển ngạch, chuyển loại công chức, viên chức:

"1. Xếp lương khi nâng ngạch công chức, viên chức :

a. Trường hợp chưa hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung ở ngạch cũ thì căn cứ vào hệ số lương đang hưởng ở ngạch cũ để xếp vào hệ số lương bằng hoặc cao hơn gần nhất ở ngạch mới. Thời gian hưởng lương ở ngạch mới được tính kể từ ngày ký quyết định bổ nhiệm vào ngạch mới. Thời gian xét nâng bậc lương lần sau ở ngạch mới được tính như sau: Nếu chênh lệch giữa hệ số lương được xếp ở ngạch mới so với hệ số lương đang hưởng ở ngạch cũ bằng hoặc lớn hơn chênh lệch hệ số lương giữa 2 bậc lương liền kề ở ngạch cũ, thì được tính kể từ ngày ký quyết định bổ nhiệm vào ngạch mới; nếu nhỏ hơn chênh lệch hệ số lương giữa 2 bậc lương liền kề ở ngạch cũ, thì được tính kể từ ngày xếp hệ số lương đang hưởng ở ngạch cũ.

b. Trường hợp đang hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung ở ngạch cũ, thì căn cứ vào tổng hệ số lương cộng phụ cấp thâm niên vượt khung đang hưởng ở ngạch cũ để xếp vào hệ số lương bằng hoặc cao hơn gần nhất ở ngạch mới. Thời gian hưởng lương ở ngạch mới và thời gian xét nâng bậc lương lần sau ở ngạch mới được tính kể từ ngày ký quyết định bổ nhiệm vào ngạch mới."

Như vậy, khi nâng lương thì thời gian hưởng lương ở ngạch mới được tính kể từ ngày ký quyết định bổ nhiệm vào ngạch mới.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Bị chuyển ngạch có được hưởng lương theo bậc lương cũ không ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê