Sau 2 tháng thử việc, em đựơc trả mức lương chính thức nhưng vẫn chưa được kí hợp đồng và tính cả thử việc là em đã làm được 6 tháng. Nay em viết đơn thôi việc báo trước 8 ngày nhưng tới ngày em nghỉ mà trưởng bộ phận vẫn không duyệt đơn.

1. Vậy em có tự ý nghỉ được không?

2. Trường hợp bên công ty không trả lương hoặc cố ý giam lương của em thì em phải làm sao?

Em cám ơn ạ !

Người gửi: Linh

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật lao động của công ty luật Minh Khuê.

Nghỉ việc mà chưa ký hợp đồng ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấ như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Lao động 2012

Nghị định số 95/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động

Nội dung tư vấn:

Theo như nội dung thư bạn trình bày, bạn và người sử dụng chưa kí kết hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định của Bộ luật Lao động 2012:

"Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói."

Do đó, bạn phải chứng minh giữa bạn và người sử dụng lao động có tồn tại mối quan hệ lao động thì mới có thể được giải quyết các quyền lợi của bạn. Hơn nữa, bạn chưa nêu rõ loại hợp đồng lao động mà bạn đã tiến hành giao kết. Vì thế với trường hợp của bạn, chúng tôi xin chia thành các trường hợp sau:

Trường hợp 1: hợp đồng giữa bạn và người sử dụng lao động là hợp đồng xác định thời hạn hoặc hợp đồng theo mùa vụ: Trong trường hợp này, bạn phải tuân thủ thời hạn báo trước như sau:

" Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."

Do đó, căn cứ vào tình hình thực tế của bạn, bạn cần xác định xem mình thuộc trường hợp nào và cần thời hạn báo trước là bao lâu. 

Trường hợp hai: nếu hợp đồng giữa bạn và người sử dụng lao động là hợp đồng lao động không xác định thời hạn : "Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này".

Do đó, trong bất kì trường hợp nào, bạn cũng không được phép tự ý nghỉ việc mà phải tuân thủ thời hạn báo trước với các loại hợp đồng lao động mà chúng tôi đã nêu trên. Nếu không tuân thủ các trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cũng như vi phạm thời hạn báo trước thì bạn sẽ phải gánh chịu các hệ quả pháp lý như sau:

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Trường hợp công ty không trả lương cho bạn đúng theo thỏa thuận thì bạn có thể trực tiếp kiến nghị với người sử dụng lao động hoặc khởi kiện ra tòa án để yêu cầu bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp. Khi đó, người sử dụng lao động bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 và khoản 6 điều 13 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP như sau:

Điều 13. Vi phạm quy định về tiền lương

...

 

3. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Lao động; trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện; trả lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm cho người lao động thấp hơn mức quy định tại Điều 97 của Bộ luật Lao động; khấu trừ tiền lương của người lao động trái quy định tại Điều 101 của Bộ luật Lao động; trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định tại Điều 98 của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

...

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc trả đủ tiền lương cho người lao động theo quy định đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này;

b) Buộc trả khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả cho người lao động tính theo lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều này.

 

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ