Sau khi hết thời hạn thử việc tôi vẫn được trưởng phòng giao và thực hiện công việc theo nhiệm vụ đươc phân công. Tuy nhiên, đến ngày 11 tháng 10 năm 2016, Trưởng phòng Nhân sự có gọi tôi xuống và yêu cầu tôi nghỉ việc. Tôi có yêu cầu công ty cho biết lý do và chỉ được trả lời là vì không đạt. Tôi có yêu cầu công ty nếu vì lý do nào đó mà công ty không muốn tôi tiếp tục làm việc đề nghị công ty thanh toán lương đúng và đủ cho tôi theo hợp đồng và thỏa thuận ban đầu trong thang thử việc là hưởng 80% lương chính. Vì vậy, tôi muốn hỏi luật sư, tôi đã hết thời gian thử việc là 01 tháng và đã tiếp tục làm hết tháng thứ 2, nếu chưa ký hợp đồng chính thức sau khí hết thời gian thử việc thì công ty phải thực hiện thanh toán lương 100% cho tôi hay không và công ty phải thực hiện cho tôi nghỉ việc như thế nào là đúng luật. Nếu công ty đó không thực hiện thanh toán lương 100% cho tôi sau khi hết hợp đồng thử việc và buộc tôi nghỉ việc không có lý do chính đáng, cũng không có thông báo gì thì tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Rất mong nhận được sự giúp đỡ của luật sư. Xin trân trọng cảm ơn! (tôi chưa được ký lại HĐ chính thức)

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục chuyên mục hỏi đáp pháp luật lao động của công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn Luật Lao động trực tuyến, gọi: 1900 6162

Trả lời

Chào bạn, cám ơn bạn đã câu hỏi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê! vấn đề của bạn đã được chúng tôi nghiên cứu và xin được giải đáp cho bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012

Nghị định 44/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động

2. Nội dung tư vấn:

Căn cứ Điều 29 Bộ luật lao động hiện hành thì:

"1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận."

Như vậy, theo quy định về chế độ thử việc thì khi hết thời gian thử việc mà Công ty không ký kết hợp đồng lao động với người lao động, người lao động không được thông báo kết quả thử việc mà vẫn tiếp tục làm việc thì người đó đương nhiên được làm việc chính thức. Tuy vậy, pháp luật không có quy định cụ thể trường hợp đương nhiên được làm việc chính thức tương ứng với loại hợp đồng xác định thời hạn là bao lâu. Do đó, khi xem xét ta cần căn cứ vào hợp đồng thử việc để biết sau khi thử việc đạt yêu cầu thì người lao động sẽ được kí với công ty loại hợp đồng lao động nào, đùng đó làm cơ sở để xác định loại hợp đồng lao động đương nhiên sau thời gian thử việc.

Với trường hợp của bạn, thì sau khi kết thúc thời gian thử việc theo hợp đồng thử việc nhưng công ty không kí hợp đồng lao động và bạn vẫn tiếp tục làm việc thì HĐLĐ đương nhiên được xác lập, pháp luật mặc nhiên thừa nhận và bảo hộ cho bạn.

Trường hợp công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ đã được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc thì phải thực hiện đúng theo quy định tại Điều 38 Bộ luật lao động, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải có căn cứ và tuân thủ thời gian báo trước theo quy định của pháp luật Lao động, cụ thể:

"1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."

Trong trường hợp này người sử dụng lao động đã chấm dứt HĐLĐ với bạn không có lý do chính đáng, như vậy là trái với quy định của pháp luật trên. Do đó, căn cứ vào Điều 42 Bộ luật lao động quy định về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chấm dứt HHĐLĐ trái pháp luật bạn có thể thương lượng, đàm phán với công ty hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền nhà nước xem xét để được bảo vệ quyền lợi một cách tốt nhất.

"Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

Trong trường hợp của bạn, nếu bạn không còn nhu cầu làm việc tại công ty nữa thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu thanh toán 100% tiền lương tháng đã làm việc, cụ thể Điều 47 Bộ luật lao động quy định:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán"

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn pháp luật Lao động.