1. Làm thế nào để được nhận tiền trợ cấp tai nạn lao động khi bị tai nạn giao thông trên đường đi làm về ?

Thưa luật sư, Chồng tôi bị tai nạn giao thông trên đường đi làm về đã được người gây ra tai nạn đền bù. Công ty đã cho chồng tôi đi giám định sức khỏe được 60 phần trăm thương tật. Tôi xin hỏi chồng tôi có được công ty đền bù gì ko. Nếu được tôi phải làm gì để được công ty đền bù hay viết đơn thế nào gồm những giấy tờ gì.Trong thời gian nằm viện công ty đã hỗ trợ 10 triệu đồng. Ngoài ra 6 tháng điều trị chồng tôi không được công ty trả lương vậy có đúng không ?

Làm thế nào để được nhận tiền trợ cấp tai nạn lao động khi bị tai nạn giao thông trên đường đi làm về ?

Luật sư tư vấn giải đáp về trợ cấp tai nạn lao động khi bị tai nạn giao thông - Ảnh minh họa

 

Luật sư trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới LUẬT MINH KHUÊ. Trường hợp của bạn; chúng tôi xin được trả lời bạn như sau:

Theo Khoản 2, Điều 12 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động, thì tai nạn xảy ra tại địa điểm và thời gian hợp lý khi người lao động đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở được coi là tai nạn lao động.

Khoản 2, Điều 5 Thông tư số 04/2015/TT-BLĐTBXH ngày 2/2/2015 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chế độ bồi thường, trợ cấp và chi phí y tế của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp quy định:

Trường hợp người lao động bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở tại địa điểm và thời gian hợp lý, nếu do lỗi của người khác (không phải là bản thân người lao động bị tai nạn) gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn thì người sử dụng lao động vẫn phải trợ cấp cho người lao động theo quy định tại Điều 4 Thông tư này.

Trợ cấp do người sử dụng lao động chi trả

Theo điểm b, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 4 Thông tư số 04/2015/TT-BLĐTBXH, tai nạn xảy ra đối với người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở, tại địa điểm và thời gian hợp lý (căn cứ theo hồ sơ giải quyết vụ tai nạn của cơ quan công an hoặc giấy xác nhận của chính quyền địa phương hoặc giấy xác nhận của công an khu vực tại nơi xảy ra tai nạn), làm người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên hoặc bị chết  thì được trợ cấp. Mức trợ cấp như sau:

- Ít nhất bằng 12 tháng tiền lương đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc chết do tai nạn lao động;

- Ít nhất bằng 0,6 tháng tiền lương đối với người bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 10%; nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80% thì tra bảng theo mức bồi thường tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này hoặc tính theo công thức dưới đây:

Ttc = Tbt x 0,4

(Trong đó:

- Ttc: Mức trợ cấp cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ trên 10% trở lên (đơn vị tính: tháng tiền lương);

- Tbt: Mức bồi thường cho người bị suy giảm khả năng lao động từ trên 10% trở lên (đơn vị tính: tháng tiền lương).

Chế độ tai nạn lao động do BHXH chi trả

Hiện nay, theo quy định tại điểm c, khoản 1 và khoản 2 Điều 39 Luật BHXH năm 2006 (có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2015), người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian, tuyến đường hợp lý và người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn đó gây ra.

Mức trợ cấp một lần được quy định tại khoản 2, Điều 42 Luật này như sau:

- Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng 5 tháng lương tối thiểu chung (nay gọi là tiền lương cơ sở), sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung.

- Ngoài mức trợ cấp quy định nêu trên, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ 1 năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

Theo Điều 43 Luật BHXH năm 2006, trường hợp người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng. Mức trợ cấp hằng tháng như sau:

- Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung.

- Ngoài mức trợ cấp quy định nêu trên, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Làm thế nào để được nhận tiền trợ cấp tai nạn lao động khi bị tai nạn giao thông trên đường đi làm về ?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem ngay:  Gây tai nạn giao thông thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại như thế nào?

2. Gia đình tôi làm đơn đề nghị điều tra lại vụ tai nạn giao thông gây chết người có được không ?

Chào luật sư,ngày 24/12/2017, em trai tôi bị tai nạn giao thông xe máy được người dânđưa đi cấp cứu, sau một tuần điều trị tại bệnh viên em trai tôi đã qua đời. Sau khi xảy ra tai nạn gia đình tôi có đến hiện trường nhưng tất cả đãđược dọn dẹp và theo tôi được biết không có cảnh sát giao thông đến khámnghiệm hiện truờng. Vậy xin hỏi luật sư, nay gia đình tôi làm đơn đề nghịđiều tra lại vụ tai nạn giao thông gây chết người có được không. Nếu đượcthì thủ tục như thế nào ? 
Cảm ơn luật sư.
- Anhtuan

3. Tư vấn về tai nạn giao thông khi đi ngược chiều dẫn đến va chạm ?

Em chào luật sư, xin luật sư giải đáp cho câu hỏi của em. Ông a chở ông b bằng xe máy muốn qua đường. Vì con lươn ở giữa ngăn cáchnên phải chạy ngược đường 1 chút mới xin qua được, nhưng vừa qua chưa hếtxe, thì bị ông c lái xe máy với tốc độ rất nhanh đâm phải. Cú va chạm rấtmạnh khiến cả ba đều bị văng ra ngoài. Ông b không đội mũ bảo hiểm đã mấttrong bệnh viện sau đó. Ông a ngừơi chở bị thương nặng ở vùng mặt phải phẫuthuật. Ông c cũng bị thương nặng. (a và c có mang mũ bảo hiểm). Cho em hỏimỗi bên đã vi phạm những lỗi gì, cách giải quýêt như thế nào ?
Rất cần luậtsư tư vấn giúp cụ thể từng bên. Em xin cảm ơn.
- Hải Lý

4. Luật sư tư vấn về việc tai nạn giao thông và cách sử lý yêu cầu bồi thường khi ra toà ?

Kính chào văn phòng luật sư minh khuê. Em viết gmail này xin được văn phòng luật sư tư vấn về việc tai nạn giaothông và cách sử lý yêu cầu bồi thường khi ra toà. Sự việc là như sau. Ngày 9-5-2017 em có điều khiển xe moto trên đường đi làm thì va chạm với 1xe oto con mang nhãn hiệ kiamoning. Khi va chạm thì em đang đi thẳng đúngchiều vận tốc 50km 1h. Thì bất ngờ oto lùi từ trong nhà ngay qua đường gâyva chạm với em( đít xe oto lùi vào đầu tay lái xe máy ) làm em bị thương theo giấy củabệnh viện là đứt gân cẳng tay phải ngón thứ 3 4 5 đứt dây thần khinh trụngón thứ 5( tức ngón út ) và khâu trên 10 mũi và phải nằm viện 2 tuần và mổ2 lần.
Tình trạng xe cộ thì bên oto họ bị vỡ kính sau xe bung ốp đít. Xem hỏng bộ nhựa xe hư phần đầu xe. Hiện tại thì bên công an họ cho giảiquyết tình cảm nhưng phía bên kia đưa ra mức giá quá thấp nên bên em khôngchấp nhận và yêu cầu ra toà ( cụ thể mức bên oto đưa ra 15 triệu )vậy thưa luật sư cho em hỏi theo như những tình thiết như trên và hiện tạivết thương của em thì ra toà bên em có được yêu cầu bồi thường cao hơn nhưvậy không và mức bên em đưa ra mức bồi thường là 70 triệu liệu có hợp lý. ( hiên tại tay em chưa hồi phục dk chức năng cầm nắm và cảm giác và có thểphải mổ lần 3 ) và cách ra toà ntn ạ mong văn phòng luật xư giúp đỡ tưvấn cho em ạ ? 
Em xin cảm ơn.
- Chau Hoang

5. Dừng lại mua bánh trên đường đi làm về bị tai nạn giao thông có được coi là tai nạn lao động hay không ?

Em xin chào luật sư! Trong các văn bản pháp lý thì em thấy chỉ nói khi bị tai nạn giao thông để được coi là tai nạn lao động khi thỏa mãn thời gian và tuyến đướng hợp lý. Như vậy cho em hỏi: Chị A trên tuyến đường hằng ngày khi đi về công ty có dừng xe 1 phút để mua bánh sau đó tiếp tục đi về và bị tai nạn. Như vậy, có được coi là tai nạn lao động không? Vì trong luật không nói là phải liên tục nên em không biết rõ. Xin Luật sư giải đáp giúp em. Em cảm ơn!

Dừng lại mua bánh trên đường đi làm về bị tai nạn giao thông có được coi là tai nạn lao động hay không ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi:  1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ theo Điều 43 Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định:

"Điều 43. Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động

Người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;

b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;

c) Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.

2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này." 

Như vậy trường hợp của chị A muốn được coi là tai nạn lao động thì tai nạn này phải xảy ra trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý, trong khoảng thời gian hợp lý là khoảng thời gian cần thiết để đến nơi làm việc trước giờ làm việc hoặc trở về sau giờ làm việc. Tuyến đường hợp lý là tuyến đường thường xuyên đi và về từ nơi thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú đến nơi làm việc và ngược lại. Việc chị dừng lại mua bánh một phút nhưng vẫn trên tuyến đường từ nơi thường trú đến nhà nên vẫn được coi là tai nạn lao động.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Công an được giữ phương tiện gây tai nạn giao thông trong bao lâu ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

6. Tài xế taxi gây tai nạn giao thông phải bồi thường như thế nào ?

Thưa luật sư! Tôi là lái xe thuê của công ty taxi, vừa rồi tôi điều khiển xe taxi của công ty va chạm tai nạn giao thông gây thương tích nhẹ cho 1 người đi xe máy. Nếu phải bồi thường thì tôi có phải bồi thường không? Và mức độ bồi thường là bao nhiêu? Người đi xe máy bị rách nhỏ ở đùi, không phải phẫu thuật mà chỉ phải khâu vết rách và nằm điều trị 1 tuần tại bệnh viện, hiện tại công an đang tạm giữ phương tiện của cả 2 bên ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Tài xế taxi gây tai nạn giao thông phải bồi thường như thế nào ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ theo Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 :

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Trường hợp này bạn đã có lỗi xâm sức khỏe của người khác theo đó bạn sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị tai nạn.

Mức độ bồi thường như sau được quy định tại Điều 609 LDS  :

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm  

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

Mức bồi thường này được quy định chi tiết tại điều 1 mục II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, như sau :

Thứ nhất Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

Thứ hai Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

a) Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khoẻ nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 BLDS.

Thứ ba Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.

b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:

+ Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

+ Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

+ Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.

+ Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.

Thứ tư Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

a) Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.

b) Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.

Thứ năm Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

a) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.

b) Trong mọi trường hợp, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân…

c) Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông khi người chết có hai con nhỏ ?

 

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê