Tôi vẫn nghỉ vào ngày đó ( tôi cũng đã giải thích để mong GĐ đồng ý vì hiện ở công ty nhân sự nghỉ việc thương được giải quyết ngay trong 7 - 10 ngày). Trước khi vào làm việc tại công ty, công ty có yêu cầu tôi đặt cọc số tiền là 3 triệu đồng và tại thời điểm đó lương của tôi còn khoảng 4 triệu đồng. tổng cộng là 7 tr đồng. Suốt thời gian tôi nghỉ việc đến nay ( T10/2015), công ty không giải quyết để thanh toán số tiền trên cho tôi. Tôi mong luật sư tư vấn giúp tôi để tôi lấy lại số tiền trên Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: L.D

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh khuê

Lấy lại tiền đặt cọc và lương khi chấm dứt HĐLĐ ?

Luật sư tư vấn lao động  gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc của bạn đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012 ;

Nghị định 95/2013-NĐ/CP ;

Theo  BLLĐ năn 2012 quy định:

"Điều 20. Những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động

1. Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động".

Khoản 2 Điều 130 BLLĐ 2012 "2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường".

Như vậy, chỉ trong một số trường hợp giữa NSD và NLĐ có ký kết HĐ trách nhiệm như trong trường hợp giao tài sản lớn, ví dụ như NSD giao cho NLĐ 1 chiếc taxi, ký HĐ trách nhiệm yêu cầu đặt cọc 7 triệu đồng để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng và giữ gìn tài sản thì việc đặt cọc của NLĐ với NSD mới hợp pháp.

Tuy nhiên, trong tình huống này, công việc của bạn không đòi hỏi cần ký HĐ trách nhiệm, nên việc công ty yêu cầu bạn đặt cọc 3 triệu  đồng là vi phạm pháp luật.

Theo điểm b, khoản 3 Điều 5 Nghị đinh 95/2013-NĐ/CP có quy định thì công ty phải "b) Buộc trả lại số tiền hoặc tài sản đã giữ của người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền đã giữ của người lao động tính theo lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này".

Như vậy, trong trường hợp này, bạn có thể làm đơn, đề nghị công ty trả lại số tiền. Nếu công ty không chịu trả, căn cứ vào các quy định trên bạn có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lí vi phạm trên.

Về vấn để tiền lương của bạn, căn cứ Điều 37 BLLĐ năm 2012:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này".

Như vậy, bạn đã chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, vi phạm thời hạn báo trước. Theo điều 43 BLLĐ năm 2012 quy định:

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này".

Như vậy, bạn phải hoàn thành nghĩa vụ của NLĐ để nhận lại số lương còn thiếu, sau đó bạn làm đơn yêu cầu đến công ty để đòi quyền lợi của mình.

Trân trọng./

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT LAO ĐỘNG.