Nếu người lao động muốn nghỉ thì phải báo trước công ty trong vòng bao nhiêu ngày và có được quyền nghỉ NGANG hay không? Và công ty có trách nhiệm thanh toán tiền lương theo hợp đồng không?

Thứ hai. Nếu công ty nợ tiền nhân viên hai tháng chưa trả lương nếu người lao động muốn đòi quyền lợi thì phải làm thế nào? và theo điều luật nào? Trường hợp người lao động muốn xin nghỉ, mà chưa được công ty trả lương trong vòng hai tháng thì cần phải viết giấy tờ gì (như giấy nợ lương...) để Giám đốc ký hay sao? Và theo điều khoản nào? Và nếu công ty không trả lương người lao động muốn quy đổi ra sản phẩm thì phải là sao cho đúng luật? Mong luật sư tư vấn và phản hồi lại cho tôi. Trân trọng cảm ơn! 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật lao động  của công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật lao động gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 

Nội dung phân tích: 

Thứ nhất, nghỉ việc trong quá trình thử việc:

Bộ luật Lao động năm 2012 Điều 29 Khoản 2 quy định:

Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.

Như vậy, người lao động nghỉ việc trong thời gian thử việc thì không cần báo trước.

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó. Nếu người lao động chấm dứt hợp đồng thử việc thì người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán các khoản có liên quan đến quyền lợi của người lao động và ngược lại theo quy định của Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Lao động:

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Thứ hai, người lao động nghỉ việc mà công ty nợ lương:

Trong trường hợp bạn nghỉ việc mà công ty có nợ lương thì có thể xác nhận đây là tranh chấp giữa bạn với người sử dụng lao động - là tranh chấp lao động cá nhân, do đó đối chiếu theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Lao động thì Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là:

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Điều 201 Bộ luật Lao động quy định về trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động như sau:

"Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết."

Như vậy, khi công ty nợ tiền lương, bạn phải làm đơn lên hòa giải viên lao động yêu cầu họ xem xét và giải quyết cho mình trước đã. Nếu hòa giải viên không giải quyết được, bạn mới làm đơn yêu cầu cơ quan Tòa án giải quyết.

Việc người lao động muốn quy đổi ra sản phẩm tương ứng với tiền lương người sử dụng lao động không trả, phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa hai bên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn pháp luật Lao động.