Đơn hàng khách lẻ không có hóa đơn đỏ ,không hợp đồng , không đúng địa chỉ, chỉ có chữ ký nhận hàng chưa thanh toán. Đợt vừa qua do kinh doanh khó khăn một số khách hàng đã tắt máy và đổi địa chỉ không thanh toán,tổng số nợ là 70 triệu đồng.Tôi đã xin thôi việc ở công ty đó nhưng họ không chịu trả sổ bảo hiểm và bằng tốt nghiệp gốc của tôi,họ yêu cầu tôi phải chịu trách nhiệm thanh toán hoàn toàn số nợ trên và phải thanh toán hết thì họ mới trả lại giấy tờ cho tôi.Nếu không trả họ sẽ đưa ra cơ quan pháp luật Tôi xin hỏi trong trường hợp này tôi phải làm gì , và tôi sai ở chỗ nào , công ty sai ở chỗ nào ?

Tôi xin cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

Mượn tài khoản người khác bán hàng có trái pháp luật ?

Luật sư tư vấn về pháp luật lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê, đối với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp và tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật thương mại 2005

Bộ luật lao động 2012

Thông tư số: 23/2014/TT-NHNN hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành năm 2014.

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, về hợp đồng mua bán hàng hóa

Theo Thông tư số: 23/2014/TT-NHNN có quy định:

Điều 4. Ủy quyền trong sử dụng tài khoản thanh toán

1. Trong quá trình sử dụng tài khoản thanh toán, chủ tài khoản thanh toán, kế toán trưởng hoặc người phụ trách kế toán (nếu có) được ủy quyền cho người khác.

2. Việc ủy quyền trong sử dụng tài khoản thanh toán phải bằng văn bản và được thực hiện theo quy định của pháp luật về ủy quyền. Việc ủy quyền trong sử dụng tài khoản thanh toán của tổ chức phải được sự đồng ý bằng văn bản của tổ chức mở tài khoản.

3. Để ủy quyền trong sử dụng tài khoản thanh toán, chủ tài khoản phải gửi tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mở tài khoản văn bản ủy quyền kèm bản đăng ký mẫu chữ ký và bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn của người được ủy quyền (trường hợp bản sao không có chứng thực thì phải xuất trình bản chính để đối chiếu).

Do đó, việc bạn mượn tài khoản của khách hàng để giao dịch mà không có giấy ủy quyền được lập thành văn bản là trái pháp luật, rất dễ tạo ra rủi ro đối với nguồn tiền nhận vào cũng như thanh toán từ những tài khoản đi mượn như vậy.

Tiếp theo, theo Luật thương mại 2005 có quy định:

Điều 24. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá

1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

Trong trường hợp của bạn, hàng hóa bạn bán ra do công ty cung cấp và ủy quyền cho bạn bán, do vậy, hợp đồng mua bán ở đây cụ thể là giữa công ty với khách hàng chứ không phải giữa bạn với khách hàng. Tuy nhiên, theo pháp luật, hợp đồng miệng này vẫn được chấp nhận dù không có hóa đơn hay giấy tờ xác nhận. Nhưng việc kinh doanh này không trực tiếp mà thông qua tài khoản và không đúng địa chỉ, chỉ có giấy tờ chữ ký nhận hàng chưa thanh toán, do đó rất khó để đòi được khoản tiền đã mất này. Do bạn mượn tài khoản của người khác để bán hàng và không có giấy tờ ủy quyền nên việc khởi kiện để yêu cầu đòi lại số tiền 70 triệu này chỉ có thể được thực hiện nếu bên khởi kiện là những khách hàng có tài khoản đã cho bạn mượn mà không phải do bạn trực tiếp kiện. Bạn nên thỏa thuận với những người bạn đã mượn tài khoản và nhờ họ đứng ra khởi kiện đòi lại số tiền nói trên.

Thứ hai, về việc bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

Các trường hợp người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại Bộ luật lao động 2012:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Trường hợp của bạn không thuộc vào các trường hợp nêu trên nên việc công ty không xem xét cho bạn thôi việc là hoàn toàn hợp lý.

Thêm vào đó, bạn đã làm thất thoát khoản tiền 70 triệu của công ty chưa thể đòi lại được nên công ty hoàn toàn có thể xem xét xử lý kỉ luật lao động và bồi thường vật chất với bạn, cụ thể thao Bộ Luật lao động 2012 như sau:

Điều 123. Nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động

1. Việc xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:

a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;

b) Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở;

c) Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; trường hợp là người dưới 18 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật;

d) Việc xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản.

2. Không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động.

3. Khi một người lao động đồng thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.

4. Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:

a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;

b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;

c) Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Bộ luật này;

d) Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.

5. Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Điều 130. Bồi thường thiệt hại

1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.

2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

Do đó, trong thời gian xét kỉ luật và bồi thường thiệt hại, bạn hoàn toàn không được phép thôi việc.

Thứ ba, lỗi sai về phía công ty:

Việc công ty giữ sổ bảo hiểm và bằng tốt nghiệp bản gốc của bạn là trái với pháp luật theo Điều 20 Bộ luật lao động 2012:

Điều 20. Những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động

1. Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

Bạn có thể kiện yêu cầu công ty trả lại giấy tờ cho bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc vui lòng liên hệ: 1900.6162 để được luật sư tư vấn trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật lao động - Công ty luật Minh Khuê