Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Lao động 2012

Nghị định 05/2015/NĐ_CP hướng dẫn thi hành BLLĐ

Thông tư 23/2015/TT_BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số nội dung về tiền lương

II. Nội dung tư vấn

 Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc. Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau.

Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động: (Điều 21 Nghị định 05/2015/NĐ_CP)

Tiền lương trả cho người lao động được căn cứ theo tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, năng suất lao động, khối lượng và chất lượng công việc mà người lao động đã thực hiện. Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động được quy định bằng tiền Đồng Việt Nam, trừ trường hợp trả lương, phụ cấp lương cho người không cư trú, người cư trú là người nước ngoài theo quy định của pháp luật về ngoại hối. Bao gồm:

- Mức lương theo công việc hoặc chức danh là mức lương trong thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 BLLĐ. Mức lương đối với công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động và thời giờ làm việc bình thường (không bao gồm khoản tiền trả thêm khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

- Phụ cấp lương là khoản tiền bù đắp các yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ trong mức lương theo công việc hoặc chức danh. 

- Các khoản bổ sung khác là khoản tiền bổ sung ngoài mức lương, phụ cấp lương và có liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động, trừ tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động.

Hình thức trả lương:

- Người sử dụng lao động có quyền lựa chọn hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán. Hình thức trả lương đã chọn phải được duy trì trong một thời gian nhất định; trường hợp thay đổi hình thức trả lương, thì người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động biết trước ít nhất 10 ngày.

- Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng. Trường hợp trả qua tài khoản ngân hàng, thì người sử dụng lao động phải thỏa thuận với người lao động về các loại phí liên quan đến việc mở, duy trì tài khoản.

Lưu ý: (Điều 22 Nghị định 05/2015/NĐ_CP)

1. Tiền lương theo thời gian được trả cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế theo tháng, tuần, ngày, giờ, cụ thể:

a) Tiền lương tháng được trả cho một tháng làm việc xác định trên cơ sở hợp đồng lao động;

b) Tiền lương tuần được trả cho một tuần làm việc xác định trên cơ sở tiền lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần;

c) Tiền lương ngày được trả cho một ngày làm việc xác định trên cơ sở tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của pháp luật mà doanh nghiệp lựa chọn;

d) Tiền lương giờ được trả cho một giờ làm việc xác định trên cơ sở tiền lương ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong ngày theo quy định tại Điều 104 BLLĐ.

2. Tiền lương theo sản phẩm được trả căn cứ vào mức độ hoàn thành số lượng, chất lượng sản phẩm theo định mức lao động và đơn giá sản phẩm được giao.

3. Tiền lương khoán được trả căn cứ vào khối lượng, chất lượng công việc và thời gian phải hoàn thành.

Kỳ hạn trả lương:

 - Người lao động hưởng lương giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thoả thuận, nhưng ít nhất 15 ngày phải được trả gộp một lần.

- Người lao động hưởng lương tháng được trả lương tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và được ấn định vào một thời điểm cố định trong tháng.

- Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.

Nguyên tắc trả lương:

Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.

Tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm: (Điều 97 BLLĐ)

1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm như sau:

a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;

b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;

c) Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

2. Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.

3. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

Hiện công ty mình làm việc 3 ca 12 h. Mỗi ca làm 4 ngày nghỉ 2 ngày. Vậy mỗi tháng bình thường công nhân làm 20 ngày /tháng. Nhưng công ty lại tính cho công nhân là 26 công, dư 32 tiếng tăng ca. Có tháng công ty cho nghỉ 2 đến 3 ngày thì a/e không còn tiếng tăng ca nào hết, do lấy giờ tăng ca cộng cho đủ 26 công còn dư mới tính tăng ca. Cho hỏi cách tính như vậy có đúng không. Cảm ơn nhiều ạ!

 Theo quy định tại khoản 1 Điều 104 BLLĐ, thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần. Như vậy, trong trường hợp của bạn, việc một ca làm việc trong ngày kéo dài thời gian làm việc đến 12 giờ thì 08 giờ làm việc đầu được tính là giờ làm việc bình thường, 4 giờ làm việc còn lại được tính là thời gian làm thêm giờ (tức tăng ca). Điểm a khoản 1 Điều 25 Nghị định 05/2015/NĐ_CP quy định: "Người lao động hưởng lương theo thời gian được trả lương làm thêm giờ khi làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động quy định theo quy định tại Điều 104 BLLĐ." Như vậy, việc công ty bạn cộng dồn thời gian và tính tiền lương cho người lao động theo cách tính tiền lương của giờ làm việc bình thường là vi phạm quy định của pháp luật lao động về tiền lương.

Chào luật sư! Em hiện làm công nhân đóng gói của công ty thực phẩm tư nhân đã 6 năm. Hiện tại, hợp đồng lao động của em được công ty thỏa thuận mức lương để đóng bảo hiểm là 4.095.000 đ và hàng tháng lãnh lương theo sản phẩm. Hiện nay do công ty gặp sự cố trong việc kinh doanh nên bán hàng chậm, nên thời gian làm việc không ổn định, một ngày làm chỉ 2-4 giờ, dẫn đến lượng sản phẩm của em thấp đã tính luôn phụ cấp cơm mà chỉ có 3.500.000đ. Luật sư cho em hỏi công ty trả lương như vậy là có đúng luật không, và em phải làm thế nào để giữ quyền lợi theo hợp đồng lao động đã ký với công ty. Xin chân thành cảm ơn luật sư!

 Theo quy định của BLLĐ, NSDLĐ có quyền lựa chọn hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán. Trong trường hợp của bạn, hình thức trả lương mà công ty lựa chọn trong hợp đồng đối với bạn là "trả lương theo sản phẩm". Theo đó, công ty sẽ căn cứ vào yêu cầu về hoạt động sản xuất kinh doanh và tiến hành giao công việc cho người lao động, người lao động căn cứ vào công việc được giao để thực hiện và được trả lương theo khối lượng công việc đã hoàn thành. Theo quy định tại khoản 2 Điều 22 BLLĐ, tiền lương theo sản phẩm được trả căn cứ vào mức độ hoàn thành số lượng, chất lượng sản phẩm theo định mức lao động và đơn giá sản phẩm được giao. Như vậy, trong trường hợp của bạn do gắp sự cố về kinh doanh nên khối lượng công việc được giao cho bạn ít đi thì sẽ dẫn đến tiền lương mà bạn nhận được sẽ ít đi. Công ty bạn trong trường hợp này vẫn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật lao động hiện hành.

Tôi đang làm tại 1 công ty, khi tôi xin nghỉ thì công ty đó không cho nghỉ, tôi đã tự ý nghỉ. Hiện tôi đang đi làm cho 1 công ty khác, giờ công ty cũ báo tôi là nghỉ không lý do quá 5 ngày nên bị sa thải tôi muốn hỏi, liệu những ngày làm trong tháng tôi có được lĩnh lương không và khi tôi bị sa thải như vậy thì tôi bị xử phạt về những mặt nào?

Nguyên tắc trả lương là trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn. Căn cứ vào nguyên tắc này, khi bạn bị xử lý kỷ luật sa thải thì bạn vẫn có quyền được người sử dụng lao động cũ trả lương cho những ngày làm việc trong tháng. Theo quy định của BLLĐ, nguyên tắc xử lý kỷ luật lao động là không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động. Ngoài ra, BLLĐ quy định cấm NSDLĐ dùng hình thức phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động. Do đó, trong trường hợp của bạn nếu bạn tự ý bỏ việc 05 ngày làm việc cộng dồn trong phạm vi 30 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng thì NSDLĐ có thể áp dụng hình thức kỷ luật sa thải đối với bạn theo quy định tại Điều 31 Nghị định 05/2015/NĐ_CP. Đây là hình thức kỷ luật cao nhất đối với hành vi của bạn ngoài ra thì bạn sẽ không phải chịu thêm hình thức xử phạt nào nữa. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư lao động - Công ty Luật Minh Khuê.