Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý 

Bộ Luật Lao động 2012

Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành BLLĐ

II. Nội dung tư vấn

Theo quy định tại khoản 1 Điều 37 BLLĐ 2012:

"Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục."

Nghị định 05/2015/NĐ_CP quy định chi tiết về điểm c và điểm d khoản 1 Điều 37 BLLĐ như sau:

"Điều 11. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Điểm c Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp bị người sử dụng lao động đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự hoặc cưỡng bức lao động; bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Điểm d Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Phải nghỉ việc để chăm sóc vợ hoặc chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng, con đẻ, con nuôi bị ốm đau, tai nạn;

b) Khi ra nước ngoài sinh sống hoặc làm việc;

c) Gia đình gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh hoặc chuyển chỗ ở mà người lao động đã tìm mọi biện pháp nhưng không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động."

Ngoài ra, nếu thuộc các trường hợp trên và NLĐ muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì NLĐ phải tuân thủ nghĩa vụ báo trước cho người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 37 BLLĐ:

- Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn

- Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn

- Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không đúng theo quy định trên đều thuộc đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật quy định tại Điều 43 BLLĐ:

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Lưu ý: Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài.

Ở công ty em có một chị vừa mới kí hợp đồng chính thức làm việc tại công ty 1 năm vào ngày 1/9/2016. Nhưng ngay hôm sau chị ấy lại nghỉ việc luôn. Em muốn hỏi luật sư trường hợp này sẽ bị xử lí như thế nào ạ? Em cảm ơn luật sư!

 Do bạn không cung cấp rõ thông tin về việc người lao động này đơn phương chấm dứt hợp đồng theo trường hợp nào tuy nhiên có thể thấy người này đã vi phạm quy định về nghĩa vụ báo trước của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng. Do hợp đồng có thời hạn xác định là 1 năm nên thời hạn báo trước là 30 ngày, nếu không báo trước, người này phải bồi thường cho NSDLĐ khoản tiền lương ứng với 30 ngày không báo trước của mình. 

Xin chào luật sư. Khi em kết thúc hợp đồng lao động là ngày 02/08/2016 (hợp đồng có thời hạn 12 tháng). Nếu người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì có cần thông báo cho người sử dụng lao động biết hay không? và thông báo trước khi hợp đồng lao động hết hạn là bao nhiêu ngày? Cảm ơn luật sư đã tư vấn! 

 Theo quy định của bộ luật lao động 2012, người lao động chỉ có nghĩa vụ báo trước trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Trong trường hợp của bạn, hợp đồng của bạn là hợp đồng xác định thời hạn có thời hạn 12 tháng, do đó trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động của bạn là hết thời hạn hợp đồng lao động mà không phải là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, nếu bạn không muốn tiếp tục hợp đồng lao động thì theo quy định của pháp luật hiện hành, bạn cũng không cần báo trước cho NSDLĐ. Ngoài ra, trong trường hợp này, nghĩa vụ báo trước thuộc về nguwoif sử dụng lao động theo quy định tại Điều 47 BLLĐ: " Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động."

Xin chào luật sư. Cho tôi hỏi tôi đang ký hợp đồng với 1 công ty thời hạn 3 năm tôi đã làm được 1 năm. Hiện nay, do mức lương thấp không đáp ứng đủ nhu cầu cuộc sống. Vậy tôi muốn chấm dứt hợp đồng lao động với công ty. Nếu bây giờ tôi chấm dứt hợp đồng tôi phải làm những gì. Liệu có được đòi quyền lợi từ công ty hay phải bồi thường cho công ty không? Xin cảm ơn!

 Căn cứ vào thông tin mà bạn cung cấp, hợp đồng lao động mà bạn đã giao kết là hợp đồng lao động xác định thời hạn. Trong trường hợp của bạn, bạn có thể gửi đơn xin nghỉ việc đến người sử dụng lao động, nếu được người sử dụng lao động đồng ý thì có thể chấm dứt hợp đồng lao động theo trường hợp hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Nếu không được người sử dụng lao động đồng ý thì bạn sẽ phải chấm dứt hợp đồng lao động theo trường hợp đơn phương chấm dứt. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 37 BLLĐ, người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động và phải tuân thủ nghĩa vụ báo trước với NSDLĐ biết trước ít nhất 30 ngày. Trong trường hợp bạn thực hiện đúng các quy định về chấm dứt hợp đồng lao động thì bạn không phải chịu trách nhiệm bồi thường gì cho công ty và được bạn vẫn được hưởng các quyền lợi sau: được trợ cấp thôi việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc liên hệ văn phòng   để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng ./.

Bộ phận Luật sư lao động - Công ty Luật Minh Khuê.