Tóm tắt vụ việc:

- Cuối Tháng 3/2014: bắt đầu làm

- 1/4/2014: Kí hợp đồng không xác định thời hạn: Trường ban nhân sự

- 10/7/2014: họp ban Giám đốc, Chủ tịch HĐQT yêu cầu gặp kế toán làm thủ tục chấm dứt HĐLĐ với lý do không phù hợp với vị trí này.

- 11/7/2014: nhận quyết định nghỉ việc

- 13/7/2014: yêu cầu nghỉ làm.

- 7/4/2014: có xác nhận của cơ sở y tế là đang có thai.

Yêu cầu: Giấy tờ và thủ tục cần để khởi kiện yêu cầu bồi thường.

Mong luật sư tư vấn!

Người gửi: Minh Thu

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi:   1900 6162

Chế độ bảo hiểm thai sản cho phụ nữ?

Tư vấn luật lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng - Ảnh minh họa

TRẢ LỜI:

Xác định hành vi trái pháp luật lao động của công ty bạn.

Thứ nhất, lý do công ty chấm dứt HĐLĐ với bạn là không hợp pháp.

Pháp luật ghi nhận quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của Người sử dụng lao động (NSDLĐ) tại Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012, theo đó, NSDLĐ chỉ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ trong các trường hợp sau:

+ Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

+ Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

+ Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

+ Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng lao động.

Đối chiếu với trường hợp của bạn, lý do công ty đưa ra để chấm dứt HĐLĐ với bạn là “không phù hợp với vị trí Trưởng ban nhân sự” không thuộc một trong 4 căn cứ trên. Như vậy, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ này là bất hợp pháp.

Thứ hai, công ty đã vi phạm thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ.

HĐLĐ giữa bạn và công ty là HĐLĐ không xác định thời hạn cho nên nếu đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì công ty phải có trách nhiệm báo trước cho bạn ít nhất 45 ngày (khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012). Trong khi đó, ngày 10/7 trong cuộc họp ban Giám đốc, Chủ tịch HĐQT thông báo đến bạn là cho bạn nghỉ việc và yêu cầu gặp kế toán để làm thủ tục và ra quyết định cho bạn nghỉ việc ngay sau đó 1 ngày (tức ngày 11/7) là đã vi phạm thời hạn báo trước 44 ngày.

Từ những căn cứ nêu trên có thể khẳng định được rằng công ty bạn đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật với bạn cho nên bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu khởi kiện yêu cầu bồi thường.

Thủ tục yêu cầu bồi thường.

Trường hợp của bạn thuộc 1 trong 5 tranh chấp lao động cá nhân không bắt buộc phải giải quyết thông qua thủ tục hòa giải theo khoản 1 Điều 201 BLLĐ năm 2012 cho nên bạn có thể thực hiện luôn quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Tòa án nhân dân quận/huyện nơi công ty bạn đóng trụ sở.

- Hồ sơ yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động bao gồm:

+ Đơn khởi kiện (theo mẫu) và các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện.

+ Bản sao giấy chứng minh thư nhân dân (hoặc hộ chiếu), Sổ hộ khẩu gia đình (có sao y bản chính);

+ Các tài liệu liên quan đến quan hệ lao động như: Hợp đồng lao động, Quyết định bổ nhiệm chức vụ, quyết định chấm dứt hợp đồng,…

+ Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (ghi rõ số lượng bản chính, bản sao);

Những quyền lợi bạn có thể được hưởng.

Căn cứ theo Điều 42 BLLĐ năm 2012 quy định về Nghĩa vụ của NSDLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì bạn sẽ được hưởng những quyền lợi sau đây:

Thứ nhất, được nhận trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và công ty phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày bạn không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Thứ hai, nếu bạn không muốn làm việc tại công ty nữa thì bạn chỉ được nhận khoản tiền bồi thường ít nhất 02 tháng tiến lương mà không được nhận 1 khoản gọi là trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của BLLĐ vì bạn làm việc tại công ty chưa đủ 12 tháng trở lên.

Thứ ba, trường hợp công ty không muốn nhận lại bạn và bạn đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường bằng ít nhất 02 tháng tiền lương thì hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Thứ tư, trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong HĐLĐ mà bạn vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường bằng ít nhất 02 tháng tiền lương thì hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Ngoài ra, công ty đã vi phạm thời hạn báo trước 44 ngày nên công ty phải bồi thường cho bạn một khoản tiền tương ứng với tiền lương của bạn trong 44 ngày này.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
Trân trọng./.
BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT LAO ĐỘNG

----------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

2. Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

3. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

4. Luật sư tư vấn pháp luật lĩnh vực luật lao động;

5. Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án lao động tại toà án;

6. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;