Số lao động Việt Nam đang thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng; hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo mùa vụ hoặc theo công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước thì số lao động được người sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao động trở lên bao gồm cả số cán bộ, công chức đang làm việc tại cơ quan. Đối với doang nghiệp có sử dụng lao động dưới 10 lao động và trên 10 lao động được quy định như thế nào về Luật Bảo hiểm xã hội?

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:    1900 6162

 

Tại khoản 1 Điều 3 mục III Thông tư 32/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25/10/2010 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 127/2008/NĐ-CP quy định, số lao động được người sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao động trở lên, bao gồm: Số lao động Việt Nam đang thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng; hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo mùa vụ hoặc theo công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước thì số lao động được người sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao động trở lên bao gồm cả số cán bộ, công chức đang làm việc tại cơ quan.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH nêu trên thì thời điểm tính số lao động hằng năm của các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức để thực hiện chính sách BHTN là ngày 1 tháng 1 theo dương lịch.

Trường hợp thời điểm khác trong năm người sử dụng lao động sử dụng đủ số lao động thuộc đối tượng tham gia BHTN theo quy định thì thời điểm tính số lao động của năm đó để thực hiện chính sách BHTN của doanh nghiệp, cơ quan, tổ  chức được tính vào ngày mùng một của tháng tiếp theo, tính theo dương lịch.

Như vậy, người lao động khi giao kết hợp đồng lao động với công ty mới có sử dụng dưới 10 lao động thì không thuộc diện tham gia BHTN theo quy định nêu trên.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Luật lao động quy định về Bảo hiểm xã hội như sau:

- Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối với những doanh nghiệp sử dụng từ 10 người lao động trở lên. Ở những doanh nghiệp này, người sử dụng lao động, người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật này và người lao động được hưởng các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí và tử tuất.

Theo khoản 1 Điều 149 Luật lao động được quy định như sau:

1 -   Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ các nguồn sau đây:

a)  Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương;

b)  Người lao động đóng bằng 5% tiền lương;

c)  Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động;

d)  Các nguồn khác.

2. Đối với doanh nghiệp có dưới 10 lao động thì được quy định tại khoản 2 Điều 141 Luật lao động về Bảo hiểm xã hội như sau:

-  Người lao động làm việc ở những nơi sử dụng dưới 10 người lao động, hoặc làm những công việc thời hạn dưới ba tháng, theo mùa vụ, hoặc làm các công việc có tính chất tạm thời khác, thì các khoản bảo hiểm xã hội được tính vào tiền lương do người sử dụng lao động trả để người lao động tham gia bảo hiểm xã hội theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm.

-  Như vậy doanh nghiệp có dưới (ít hơn) 10 lao động thì phải tham gia BHYT và BHXH (thai sản, ốm đau...) cho người lao động nào có HĐLĐ từ 3 tháng trở lên; nếu từ 10 lao động thì phải tham gia cả BHTN. Doanh nghiệp phải buộc người lao động tham gia và trích trừ lương hàng tháng. (Trường hợp doanh nghiệp đã sử dụng từ 10 lao động trở lên thuộc đối tượng tham gia BHTN, nếu các tháng trong năm có sử dụng ít hơn 10 lao động thì vẫn thực hiện đóng BHTN cho những người lao động đang đóng BHTN.)

  3. Theo nghị định mới 95/2013/NĐ-CP thay thế 47/2010/NĐ-CP (hiệu lực từ 10/10/2013) chỉ là tăng các mức tiền phạt về lĩnh vực lao động và BHXH (Và 1 số quy định về HĐLĐ ngoài nước); Do đó các mức đóng BHXH của doanh nghiệp và người lao động vẫn ở mức quy định trước đó: 

Mức đóng từ 01/01/2012 như sau :

- Mức đóng BHXH hàng tháng bằng 24% mức tiền lương, tiền công tháng, trong đó: NLĐ đóng 7%, người sử dụng lao động đóng 17%;
- Mức đóng BHYT hàng tháng bằng 4,5% mức tiền lương, tiền công tháng, trong đó: NLĐ đóng 1,5%, người sử dụng lao động đóng 3%;
- Mức đóng BHTN hàng tháng bằng 3% mức tiền lương, tiền công tháng, trong đó: NLĐ đóng 1%, người sử dụng lao động đóng 1%, ngân sách nhà nước hổ trợ bằng 1%.
(Từ 01/01/2014 mức đóng BHXH hàng tháng sẽ là 26% – tăng 2% của quỹ hưu trí, tử tuất, trong đó NLĐ 1% và NSDLĐ 1%).

Bài viết mang tính chất tham khảo

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê