1. Quy định về chế độ tiền lương công chức, viên chức ?

Luật Minh Khuê giải đáp các câu hỏi của khách hàng về vấn đề tiền lương, phụ cấp lương và các chế độ quyền lợi khác của công chức, viên chức

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Chế độ tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện theo quy định tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang:

1. Nguyên tắc xếp lương và phụ cấp chức vụ lãnh đạo

a) Cán bộ, công chức, viên chức được bổ nhiệm vào ngạch công chức, viên chức nào (sau đây viết tắt là ngạch) hoặc chức danh chuyên môn, nghiệp vụ nào thuộc ngành Tòa án, ngành Kiểm sát (sau đây viết tắt là chức danh) thì xếp lương theo ngạch hoặc chức danh đó.

b) Cán bộ giữ chức danh do bầu cử thuộc diện xếp lương chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo thì xếp lương theo ngạch, bậc công chức hành chính và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo của chức danh bầu cử hiện đang đảm nhiệm.

c) Cán bộ, công chức, viên chức giữ chức danh lãnh đạo (bầu cử, bổ nhiệm) nào thì xếp lương chức vụ hoặc hưởng phụ cấp chức vụ theo chức danh lãnh đạo đó. Nếu một người giữ nhiều chức danh lãnh đạo khác nhau thì xếp lương chức vụ hoặc hưởng phụ cấp chức vụ của chức danh lãnh đạo cao nhất. Nếu kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo đứng đầu cơ quan, đơn vị khác mà cơ quan, đơn vị này được bố trí biên chế chuyên trách người đứng đầu thì được hưởng thêm phụ cấp kiêm nhiệm.

d) Các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang và cơ yếu quy định hưởng lương theo bảng lương nào thì xếp lương theo bảng lương đó.

đ) Chuyển xếp lương cũ sang lương mới phải gắn với việc rà soát, sắp xếp biên chế của các cơ quan, đơn vị; rà soát, hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức, viên chức; rà soát lại việc xếp lương cũ, những trường hợp đã xếp lương hoặc phụ cấp chức vụ chưa đúng quy định của cơ quan có thẩm quyền thì chuyển xếp lại lương và phụ cấp chức vụ (nếu có) theo đúng quy định.

2. Nguyên tắc trả lương

Việc trả lương phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức và nguồn trả lương (từ ngân sách nhà nước cấp hoặc hỗ trợ và từ các nguồn thu theo quy định của pháp luật dùng để trả lương) của cơ quan, đơn vị.

3. Nguyên tắc thực hiện chế độ tiền lương

a) Cán bộ, công chức, viên chức và các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang khi thay đổi công việc thì được chuyển xếp lại lương và phụ cấp chức vụ (nếu có) cho phù hợp với công việc mới đảm nhiệm. Trường hợp thôi giữ chức danh lãnh đạo (trừ trường hợp bị kỷ luật bãi nhiệm, cách chức hoặc không được bổ nhiệm lại) để làm công việc khác hoặc giữ chức danh lãnh đạo khác mà có mức lương chức vụ hoặc phụ cấp chức vụ thấp hơn thì được bảo lưu mức lương chức vụ hoặc phụ cấp chức vụ của chức danh lãnh đạo cũ trong 6 tháng, sau đó xếp lại lương hoặc phụ cấp chức vụ (nếu có) theo công việc mới đảm nhiệm.

b) Theo yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức và các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang đang giữ chức danh lãnh đạo được luân chuyển đến giữ chức danh lãnh đạo khác có mức lương chức vụ hoặc phụ cấp chức vụ thấp hơn, thì được giữ mức lương chức vụ hoặc phụ cấp chức vụ theo chức danh lãnh đạo cũ. Trường hợp công việc mới được luân chuyển đến quy định xếp lương theo ngạch hoặc theo chức danh thấp hơn thì được giữ mức lương cũ (kể cả phụ cấp chức vụ nếu có) và được thực hiện chế độ nâng bậc lương theo quy định ở ngạch hoặc chức danh cũ.

4. Các bảng lương

a) Quy định 7 bảng lương sau:

Bảng 1: Bảng lương chuyên gia cao cấp.

Bảng 2: Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước (bao gồm cả cán bộ giữ chức danh do bầu cử thuộc diện xếp lương theo ngạch, bậc công chức hành chính và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và công chức ở xã, phường, thị trấn).

Bảng 3: Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.

Bảng 4: Bảng lương nhân viên thừa hành, phục vụ trong các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.

Bảng 5: Bảng lương cán bộ chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.

Bảng 6: Bảng lương cấp bậc quân hàm sĩ quan quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan công an nhân dân.

5. Chế độ phụ cấp lương

- Phụ cấp thâm niên vượt khung

- Phụ cấp kiêm chức danh lãnh đạo

- Phụ cấp khu vực

- Phụ cấp đặc biệt

- Phụ cấp thu hút

- Phụ cấp lưu động

- Phụ cấp độc hại, nguy hiểm

- Các chế độ phụ cấp đặc thù theo nghề hoặc công việc

Xin cho hỏi. Tôi học sư phạm ra nhưng được cử về làm thư viện trường tiểu học, 8 năm nay tôi đều được phụ cấp 35% nhưng sang tới năm 2016 đột nhiên cắt phụ cấp 35% của tôi. Vậy tôi xin hỏi giáo viên làm thư viện có được phụ cấp 35% không ?

Căn cứ theo quy định tại Quyết định 244/2005/QĐ-TTg, phụ cấp 35% được áp dụng đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các trường mầm non, tiểu học ở đồng bằng, thành phố, thị xã; các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Khoản 1 Mục I Thông tư liên tịch 01/2006/TTLT-BGDĐT-BTC-BNV về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập quy định về phạm vi và đối tượng áp dụng chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo (còn gọi là phụ cấp đứng lớp) không áp dụng chế độ này đối với những người không phải là nhà giáo, ở đây là nhân viên thư viện.

Thưa luật sư, Tôi là giáo viên mầm non được hưởng chế độ Phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tôi ra trường tháng 1 năm 1997 và chế độ được tính từ mốc tháng 1/2000 đến tháng 31/12/2008, thời gian gián đoạn không được hưởng là năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2013. Đến năm 2014, 2015 thì được hưởng trở lại. Vậy theo quy định tôi đã đủ 10 năm hưởng 0,7 có đúng hay không ?

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 116/2010/NĐ-CP, chế độ phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn áp dụng mức 0,7 so với mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 10 năm đến dưới 15 năm. Thời gian tính đủ 10 năm để hưởng chế độ trợ cấp này được hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư liên tịch số 08/2011/TTLT-BNV_-TC là tổng thời gian làm việc có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (nếu có thời gian đứt quãng thì được cộng dồn). Như vậy, tổng thời gian công tác tại vùng này cộng dồn của bạn cho đến hiện tại đã đủ 10 năm để hưởng chế độ trên.

Kính chào đoàn luật sư Minh Khuê! Cho tôi xin hỏi, tôi đang trong thời gian làm việc hợp đồng trong một bệnh viện khu vực nếu tôi làm hồ sơ thi công chức mà lỡ không đậu thì hợp đồng làm việc của tôi có còn được duy trì hay không hay tôi sẽ bị cắt hợp đồng làm việc. Trân trong đoàn luật sư Minh Khuê tư vấn giúp tôi với. Tôi xin cảm ơn!

Nếu bạn đã ký kết hợp đồng với một đơn vị sử dụng lao động kể cả dưới hình thức hợp đồng lao động hay hợp đồng làm việc thì cũng sẽ quy định về thời hạn của hợp đồng. Do đó, việc chấm dứt hợp đồng với bạn phải căn cứ vào thời hạn trong hợp đồng đã ký kết với bạn chứ không liên quan đến việc bạn thi tuyển công chức. Tuy nhiên, trong một trường hợp bạn có thể bị chấm dứt hợp đồng nếu bị xử lý kỷ luật sa thải hoặc bị đơn vị sử dụng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 BLLĐ 2012 hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức năm 2010 (xem thêm: Luật Cán bộ, công chức 2008).

Xin chào luật Minh Khuê. Tôi có thắc mắc sau đây mong được văn phòng hỗ trợ giải đáp. Thứ 1 là tôi là giáo viên của cơ quan nhà nước nhưng hiện tại mới chỉ hợp đồng kí từng năm, vậy tôi có được coi là viên chức nhà nước không và khi đi ra nước ngoài có cần xin phép cơ quan không ?Thứ 2 là trong thời gian tôi xin nghỉ phép người đứng đầu cơ quan đã yêu cầu xác minh lịch trình xuất nhập cảnh và lịch trình vé may bay của tôi mà tôi không được biết và không đồng ý, như vậy có vi phạm luật công dân về tự do đi lại và luật công dân về xâm phạm đời tư không ? Tôi rất mong nhận được sự hồi đáo sớm, tôi xin chân thành cảm ơn!

Hiện nay, hợp đồng làm việc là hợp đồng ký giữa viên chức hoặc người được tuyển dụng làm viên chức với với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có hai loại: xác định thời hạn và không xác định thời hạn. Do đó, mặc dù hiện tại bạn mới được tuyển dụng và ký kết hợp đồng làm việc có thời gian một năm nhưng bạn vẫn có thể là viên chức theo quy định của Luật Viên chức rồi. Hiện nay, Luật Viên chức không quy định cụ thể về vấn đề này, tuy nhiên đối với một số cơ quan, đơn vị việc đi nước ngoài của viên chức phải xin phép nghỉ tại cơ quan cũng như xin phép được ra nước ngoài được quy định tại nội quy, quy chế làm việc. Do vậy, nếu có cơ quan bạn có quy định trên thì bạn cần phải được sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan. Ngoài ra, tại một số địa phương cũng ban hành những quyết định quy định về việc quản lý, xét duyệt cán bộ, công chức, viên chức đi nước ngoài kể cả vị lý do riêng không phải là mục đích công vụ. Ví dụ: Quyết định số 05/2013/QĐ-UBND về việc ban hành quy định quản lý, xét duyệt cán bộ, công chức, viên chức đi nước ngoài của UBND thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, nếu bạn thuộc diện đi nước ngoài phải xin phép mà không xin phép thì thủ trường cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, xác định hành vi vi phạm của bạn để tiến hành xử lý.

Chào luật sư, Tôi có câu hỏi cần luật sư tư vấn như sau: tôi là giáo viên tiểu học vào ngành 28/08/1988, đến tháng 09/1989 hết tập sự, năm 1990 hưởng mức lương 256 đồng. Vậy xin luật sư cho biết đến ngày 23/05/1993 thì mức lương chuyển đổi từ bậc lương cũ sang hưởng lương mới theo bậc và hệ số của tôi tại thời điểm đó là bao nhiêu? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tại thời điểm bạn vào làm việc, chế độ tiền lương của bạn được thực hiện theo quy định tại Nghị định 235/1985/HĐBT. Về chế độ nâng bậc lương năm 1993 được thực hiện theo Thông tư liên bộ số 11/LBTT. Tuy nhiên, hiện nay các văn bản này đã quá cũ và không thể xác định được bậc lương của bạn trong Bảng lương chức vụ cho cán bộ, viên chức làm công tác khoa học, kỹ thuật, chính trị, kinh tế, y tế, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, pháp chế, quan hệ quốc tế ban hành kèm theo Nghị định 235/1985/HĐBT. Do đó, chúng tôi không thể xác định một cách chính xác bậc lương cũng như hệ số lương của bạn tại thời điểm đó.

Xin Chào Luật Sư. Em có thắc mắc muốn hỏi Luật Sư. Em học cao đẳng chính quy ra trường vào làm việc cho công ty tư nhân thì được công ty áp dụng hê số lương la 1,99 . Em xin hỏi Luật Sư công ty em áp dụng cách tính hệ số đó đúng hay sai . Em xin cảm ơn!

Việc áp dụng hệ số lương được áp dụng đối với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nhân dân là những đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Đối với các đối tượng khác là người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, vấn đề trả lương và tăng lương phụ thuộc vào thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, việc áp dụng mức lương cho bạn phải đáp ứng theo quy định về lương tối thiểu vùng đối với lao động đã qua đào tạo theo quy định tại Nghị định 153/2016/NĐ-CP. Nếu mức lương công ty trả cho bạn thấp hơn mức lương quy định tại Nghị định 153/2016/NĐ-CP thì công ty đã vi phạm pháp luật về lao động.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Tư vấn về tiền lương của công chức cấp xã ?

Kinh chào công ty Luật Minh Khuê, hiện tôi đang có thắc mắc muốn luật sư tư vấn như sau: tôi muốn được giải đáp về tiền lương của công chức cấp xã là gì? phân tích khái lược quá trình thay đổi các quy định về tiền lương đối với công chức cấp xã?.

Tư vấn về tiền lương của công chức cấp xã ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Liên quan đến câu hỏi của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Tiền lương của công chức cấp xã là khoản tiền mà nhà nước trả cho công chức cấp xã để thực hiện công việc mà công chức cấp xã được giao.

Về mức lương:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 5 Nghị định 92/2009/NĐ-CP quy định mức lương của công chức cấp xã như sau:

"a) Công chức cấp xã tốt nghiệp trình độ đào tạo từ sơ cấp trở lên phù hợp với chuyên môn của chức danh đảm nhiệm, thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy định tại bảng lương số 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước), bảng lương số 4 (Bảng lương nhân viên thừa hành, phục vụ trong các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP;

b) Những người hiện đang đảm nhiệm chức danh công chức xã quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định này chưa tốt nghiệp đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định thì được hưởng lương bằng 1,18 so với mức lương tối thiểu;

c) Thời gian tập sự của công chức cấp xã được quy định như sau: 12 tháng đối với công chức được xếp lương ngạch chuyên viên và tương đương; 06 tháng đối với công chức được xếp lương ngạch cán sự và tương đương; 03 tháng đối với công chức được xếp lương ngạch nhân viên và tương đương. Trong thời gian tập sự được hưởng 85% bậc lương khởi điểm theo trình độ đào tạo chuyên môn được tuyển dụng. Trường hợp có học vị thạc sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% lương bậc 2 của ngạch chuyên viên và tương đương; công chức cấp xã ở vùng cao, biên giới, hải đảo thời gian tập sự được hưởng 100% bậc lương khởi điểm theo trình độ đào tạo. Thời gian tập sự không được tính vào thời gian để xét nâng bậc lương theo niên hạn."

Ngoài ra, theo khoản 3, Điều 5, Nghị định 92/2009/NĐ-CP thì đối với cán bộ, công chức cấp xã là người đang hưởng chế độ thương bình, bệnh binh các hạng mà không thuộc đối tượng đang hưởng chế độ hưu trí hoặc trợ cấp mất sức lao động, ngoài chế độ thương binh, bênh binh đang hưởng, được xếp lương theo quy định của nghị định này.

Khái lược thay đổi các quy định về tiền lương đối với công chức cấp xã:

1. Giai đoạn 1986 - 1993

Năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra trong bối cảnh đợt tổng thể cải cách giá - lương - tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế Việt Nam càng trở nên khó khăn (tháng 12 năm 1986, giá bán lẻ hàng hóa tăng 845,3%). Đại hội VI đã thảo luận và thông qua các nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, trên cơ sở “sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ là đặc trưng của cơ chế mới về quản lý”, đòi hỏi “sản xuất phải gắn với thị trường, mọi hoạt động kinh tế phải so sánh chi phí với hiệu quả, các tổ chức và đơn vị kinh tế phải tự bù đắp chi phí và có lãi để tái sản xuất mở rộng”. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, 1986

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng năm 1991 tiếp tục khẳng định đường lối “Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nưóc bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác”.

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, các cơ chế lao động, sản xuất có nhiều thay đổi nhanh chóng, các chính sách về tiền lương cũng được cải cách, thực hiện trên nguyên tắc chế độ cung cấp hiện vật theo giá bù lỗ trước đây cho công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang (gọi chung cho người lao động được ngân sách nhà nước trả lương) sẽ được quy đổi tất cả thành tiền là đồng lương. Các sản phẩm tiêu dùng và giá cả sẽ do thị trường điều tiết. Đây là bước chuyển đổi lớn về tiền lương. Nếu như trước năm 1985, chế độ đãi ngộ bao gồm lương, các khoản hiện vật không mất tiền hoặc chỉ phải chi trả một mức tiền nhỏ như nhà ở, lương thực, tem phiếu thực phẩm,... thì với những thay đổi trên, các khoản hiện vật trên dần được thay thế bằng tiền và các hàng hóa được trả lại cho thị trường điều tiết, hình thành thị trường lao động và tiền lương của nền kinh tế thị trường. Mức lương cơ sở tối thiếu được ấn định là 220 đồng. Chênh lệch mức lương giữa nhân viên tạp vụ với bậc 1 đại học và bậc cao nhất của bộ trưởng là 1 – 1.32 - 3.5. Một hệ thống thang bảng lương được hình thành cùng với 12 loại phụ cấp như: Phụ cấp khu vực, phụ cấp chênh lệch giá sinh hoạt theo vùng, phụ cấp thâm niên. Đặc biệt, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp ưu đãi với một số ngành nghề, phụ cấp độc hại, phụ cấp trách nhiệm. Mức lương của công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang sẽ được xác định bằng tiền lương tối thiểu nhân với hệ số lương bậc lương tương ứng cộng với các khoản phụ cấp (nếu thuộc đối tượng được hưởng). Cách tính lương của đối công chức, viên chức của giai đoạn này vẫn được duy trì cho đến hiện nay.

Từ 1985 đến 1993, do ảnh hưởng của lạm phát, để đảm đời sống của lao động trong khu vực nhà nước, tiền lương tối thiếu đã liên tục được điều chỉnh 21 lần.

2. Giai đoạn 1993 đến 2004

Năm 1993, Việt Nam đã triệt để thay đổi cấu trúc tiền lương từ việc phân phối gián tiếp sang trực tiếp, xóa bỏ bao cấp; thực hiện tiền tệ hóa lương với quan điểm: tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, kích thích người lao động làm việc năng suất, chất lượng, hiệu quả và thực hiện phân phối công bằng trong xã hội; việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Thực hiện tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành chính nhà nước và khu vực sự nghiệp cung cấp dich vụ công, chính sách tiền lương với chính sách ưu đãi người có công. Mỗi khu vực có chính sách và cơ chế tiền lương phù hợp. Hai trụ cột chính của an sinh xã hội là bảo hiếm xã hội và bảo hiếm y tế đã được hình thành. Quỹ bảo hiếm xã hội và bảo hiếm y tế đã có sự độc lập với ngân sách nhà nước. Đó là bước tiến mới trong chính sách tiền lương ở khu vực công.

Quan hệ tiền lương giữa nhân viên tạp vụ, bậc 1 trình độ đại học và bậc tối đa bộ trưởng đã được nới rộng hơn giai đoạn 1986 -1993 thành 1-1,78 - 8,5. Lương tối thiếu của thời điểm đầu giai đoạn này là 120.000 đồng (tương đương 60 kg gạo). Trong giai đoạn này, tiền lương tối thiểu đã được điều chỉnh 03 lần và đến năm 2004 là 210.000đồng.

3. Giai đoạn 2004 đến nay

Ngày 14/12/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, thực hiện trả lương cho công chức, viên chức trên nguyên tắc phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc phân phối theo lao động gắn với năng suất, chất lượng, hiệu quả. Mục tiêu tiền lương phải là nguồn sống chính của công chức, viên chức. Có thể nói trong giai đoạn này, cơ chế chính sách tiền lương trong khu vực hành chính, sự nghiệp nhà nước so với giai đoạn trước không có những thay đổi nổi bật và bắt đầu tạo ra những sự tương phản với khu vực sản xuất kinh doanh khi khu vực này từng bước tính đúng, tính đủ tiền lương theo nguyên tắc thị trường, chống bình quân, cào bằng.

Từ 2004 đến nay trước ngày 1/5/2016, nhà nước đã điều chỉnh lương tối thiểu đến 9 lần. Hiện nay, từ ngày 1/5/2016 mức lương cơ sở là 1.210.000 đồng. Quan hệ tiền lương giữa nhân viên tạp vụ, bậc 1 trình độ đại học và kịch bậc bộ trưởng tiếp tục được nới rộng thành 1- 2.34 - 10. Một số bậc lương được bỏ bớt và bổ sung thêm các phụ cấp.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Tư vấn về việc đòi tiền lương?

Kính gửi : Luật sư Minh Khuê. Hiện giờ tôi có 1 thắc mắc, mong luật sư giải đáp. Trước đây tôi làm Nhân viên hợp đồng cho công ty cổ phần quảng lý đường thủy số 2, công việc là làm nhân viên điều tiết đường thủy nội địa cho công trình xây cầu tại thành phố Cần Thơ.
Hiện giờ tôi đã kết thúc hợp đồng được 2 tháng nhưng bên công ty vẫn nợ lương tháng 8,9,10 nhưng khi tôi yêu cầu công ty trả lương thì bên trạm trưởng nơi tôi làm báo là chưa có lương. Mong luật sư giải đáp dùm tôi trong trường hợp này tôi phải làm những gì và khiếu nại đến ai?
Cảm ơn!

>> ​Luật sư tư vấn pháp luật lao động: 1900.6162

Trả lời:

Bạn đã kết thúc hợp đồng lao động với công ty mà công ty vẫn chưa trả bạn tiền lương tháng 8,9,10

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 47 Bộ luật lao động năm 2012

Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Như vậy theo quy định thì trong thời hạn 07 ngày kêt từ ngày chấm dứt hợp đồng thì công ty bạn phải trả đầy đủ lương cho bạn hoặc chậm hơn trong trường hợp đặc biệt cũng không quá 30 ngày. Vì hiện tai bạn đã kết thúc hợp đồng lao động với công ty nên trong trường hợp này để bảo vệ quyền lợi của mình thì bạn có thể yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp về hợp đồng cho bạn theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự

Điều 31 Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, hòa giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hòa giải tại cơ sở:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động; về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Như vậy thì bạn hãy làm đơn để yêu cầu Tòa án giải quyết cho bạn, bạn hãy gửi đơn đến Tòa án quận huyện nơi công ty cũ của bạn có trụ sở theo quy định tại Điều 35 Khoản 1 Văn bản hợp nhất Bộ luật tố tụng dân sự

Điều 35 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ.

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

Bạn hãy viết đơn và gửi bằng chứng ,chứng cứ để yêu cầu được Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 164 văn bản hợp nhất bộ luật tố tụng dân sự

Điều 164 Hình thức nội dung đơn khởi kiện

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;

e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

3. Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

Điều 165 Tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện

Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Sau khi Tòa án thụ lý Tòa sẽ yêu cầu bạn đóng án phí sơ thẩm hoặc bạn có thể đóng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bằng 1/2 số tiền án phí sơ thẩm. Sau khi Tòa án giải quyết thì yêu cầu về đóng lệ phí sơ thẩm vụ án sẽ được chuyển cho bị đơn khi yêu cầu của bạn được chấp nhận theo quy định tại Điều 8 Pháp lệnh 10/2009 Quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án và Điều 27

Điều 8. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức phải nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án, trừ trường hợp không phải nộp hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án theo quy định của Pháp lệnh này.

Điều 27. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm.

2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Về Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp lao động có giá ngạch: Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng sẽ là 3% của giá trị tranh chấp, nhưng không dưới 200.000 đồng( danh mục ban hành kèm theo Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 Quy định về mức án phí lệ phí Tòa án.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Đòi tiền lương khi không ký hợp đồng lao động ?

Kính chào luật sư. Xin luật sư tư vấn và giải đáp cho tôi về sự việc sau đây. Vào ngày 22/12/2015 tôi có xin vào làm nhân viên cho một công ty bảo vệ.Theo như quy định của công ty thì 30 hàng tháng cho nhân viên ứng lương và 15 tây thì lãnh lương.Tôi làm đến ngày 15/1/2016 thì công ty phát 10 ngày lương cho tôi từ 22/12/2015 đến 31/12/2015.Nhưng 10 ngày lương đó công ty không phát hết mà giữ lại chỉ phát một nửa .
Cho tôi cho đến nay,tôi đòi lương 3 lần thì công ty viện lý do kỷ luật tôi để trừ tiền và cho tôi nghỉ việc mà không thanh toán tiền lương cho tôi. Công ty không cho tôi hợp đồng lao động gi cả và tính tiền công thì 12 ngàn/1 giờ lao động. Một ca trực của tôi là 12 giờ. Nhưng khi không có người công ty bắt tôi phải làm liên tục 36 giờ. Hiện tôi đã làm ở công ty đến ngày 22/1/2016.Kính mong luật sư giải đáp công ty làm vậy có đúng không và nếu công ty làm sai thì tôi phải làm gi để bảo vệ quyền lợi cho mình ?
Chân thành cảm ơn luật sư.

>> ​Luật sư tư vấn pháp luật lao động​ trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn nói thì như vậy rõ ràng là công ty bạn thực hiện không đúng quy định của pháp luật.

Thứ nhất về việc ký kết hợp đồng lao động

Theo quy định của Bộ luật lao động năm 2012 thì hình thức của hợp đồng lao động có thể được gao kết bằng văn bản hoặc bằng lời nói theo quy định tại Điều 16

Điều 16. Hình thức hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.

Về việc ký kết hợp đồng lao động thì bạn có thể ký kết hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng lời nói (chỉ áp dụng đối với hợp đồng lao động dưới 03 tháng)

Thứ hai về việc trả lương

Theo quy định tại Điều 95,96 Bộ luật Lao động năm 2012

Điều 95. Kỳ hạn trả lương

1. Người lao động hưởng lương giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thoả thuận, nhưng ít nhất 15 ngày phải được trả gộp một lần.

2. Người lao động hưởng lương tháng được trả lương tháng một lần hoặc nửa tháng một lần.

3. Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.

Điều 96. Nguyên tắc trả lương

Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.

Như vậy thì người sử dụng lao động phải trả lương đúng thời hạn theo đúng thỏa thuận nếu trả lương chậm thì cũng không được trả chậm quá 01 tháng và còn phải được trả thêm một khoản tiền lãi ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.

Việc bạn bị công ty làm liên tục 36 h như vậy là đã vi phạm vào thời giờ làm việc theo quy định tại Điều 104 Bộ luật Lao động

Điều 104. Thời giờ làm việc bình thường

1. Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần .

Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ.

3. Thời giờ làm việc không quá 06 giờ trong 01 ngày đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.

Trong trường hợp này của bạn để bảo vệ quyền lợi của mình thì bạn phải xác định lại hợp đồng với công ty nếu hợp đồng lao động trên 03 tháng thì bạn và công ty phải ký kết hợp đồng lao động còn đối với công việc có tính chất tạm thời dưới 03 tháng thì không cần phải ký hợp đồng cũng được

Công ty ban đã vi phạm quy định về thời hạn trả lương và thời giờ làm việc.Trong trường hợp này ban có thể giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giả viên và Tòa án theo quy định tại Điều 200,201 Bộ luật Lao động năm 2012

Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Vì bạn có tranh chấp về tiền lương và thời giờ làm việc nên theo quy định của pháp luật là bắt buộc phải được giải quyết thông qua hòa giải cơ sở nếu hòa giải không thành thì bạn có thể yêu cầu tòa án giải quyết. Hoặc bạn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo điểm Khoản 3 Điều 37

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

>>Như vậy vì bạn làm hợp đồng không xác định thời hạn với công ty nên bạn bắt buộc phải thông báo với công ty trước 45 ngày trước khi nghỉ việc. Trong trường hợp công ty chậm trả lương và bắt bạn làm việc quá 12 tiếng một ngày thì bạn hãy nhờ hòa giải viên lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân cho bạn nếu hòa giải không thành hoặc không hòa giải được thì bạn hãy yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền lợi cho mình.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Làm thế nào để đòi được tiền lương khi nghỉ việc?

Kính gửi công ty luật Minh Khuê. Xin giúp em. Em làm tại một công ty tư nhân ở gần ngay nhà em. Do em mới vào được hơn 2 tháng lên vẫn chưa ký hợp đồng. Giờ do lý do riêng nên em lên công ty viết đơn xin nghỉ việc công ty đồng ý cho nghi, nhưng lại không thanh toán tiền lương tháng cuối cùng. Cho em hỏi em phải làm thế nào để đòi được riền lương tháng cuối của em ?
Xin cám ơn anh chị rất nhiều!

Làm thế nào để đòi được tiền lương khi nghỉ việc?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Do giữa bạn và công ty không giao kết hợp đồng lao động nên trường hợp của bạn không thể căn cứ vào hợp đồng lao động để yêu cầu công ty thanh toán tiền lương cho bạn. Bởi vậy để có căn cứ đòi lại tiền lương công ty chưa thanh toán, bạn cần chứng minh được mình đã có khoảng thời làm việc thực tế tại công ty.

Về việc chứng minh: bạn có thể nhờ đến sự làm chứng của những người làm cùng ca với bạn (lập thành văn bản) để chứng minh cho việc bạn đã làm việc tại công ty trong thời gian hai tháng đó, và do không giao kết hợp đồng lao động nên trường hợp của bạn sẽ được xác định là HĐLĐ không xác định thời hạn. Sau khi cả hai bên thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ thì phía công ty có nghĩa vụ thanh toán nốt tiền lương cho bạn theo Điều 47 Bộ luật lao động năm 2012 :

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán."

Khi có các giấy tờ chứng minh bạn nộp cho Giám đốc công ty để yêu cầu công ty thanh toán lương cho bạn. Trong trường hợp Giám đốc công ty vẫn cố tình không giải quyết, thì bạn có thể làm đơn khiếu nại đến hòa giải viên lao động của phòng lao động thương binh và xã hội của huyện, để nhờ cơ quan này can thiệp và hòa giải. Nếu sự hòa giải này vẫn không mang lại kết quả cho bạn, thì bạn có thể khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện (nơi đặt trụ sở của công ty) để Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bạn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Người lao động tự ý bỏ việc thì có được thanh toán tiền lương ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

6. Làm thế nào để đòi lại công bằng về tiền lương ?

Kính gửi Luật sư! Tôi tên Nam, có 1 thắc mắc nhỏ mong luật sư tư vấn giúp. Chuyện là cách đây được gần 1 tháng, tôi có xin vào làm tại 1 công ty. Tuy nhiên, tôi mới làm chính thức được khoảng 7 ngày ( từ 18/9/2015 - 26/9/2015), không kể thời gian training của phòng Đào tạo của công ty (có lương theo phòng Đào tạo nói) nhưng vì có việc cần giải quyết ở quê nên tôi đã viết đơn xin phép nghỉ luôn (vì không biết giải quyết đến lúc nào mới xong), và được trưởng phòng duyệt ngay ngày hôm đó ( 25/10/2015).

Hàng tháng công ty chốt lương vào ngày 25 dương lịch, nhưng phải đến ngày 5 dương hàng tháng tiền mới được chuyển vào tài khoản Ngân hàng. Nhưng cho đến ngày 9/10 tôi vẫn không nhận được lương và tôi có gọi điện cho phòng nhân sự và kế toán của công ty thì giải đáp là "Kể từ khi về chi nhánh làm việc nếu số ngày lớn hơn hoặc bằng 10 ngày thì mới được chấm công, nếu dưới 10 ngày không được chấm công - theo quy định của công ty". Nhưng trong thời gian training, phòng Đạo tạo không nói gì đến việc quy định phải làm hơn 10 ngày mới được chấm công (vì nếu có nói thì tôi chẳng dại gì mà đã làm được 7 ngày mà xin nghỉ ngang) Vậy cho hỏi, trong chuyện này thì tôi và công ty ai đúng, ai sai. Và nếu tôi đúng thì tôi phải làm sao để công ty ấy trả lại khoản lương trong thời gian tôi làm việc tại công ty?

Mong nhận được hồi đáp từ Luật sư. Chân thành cảm ơn Luật sư !

Làm thế nào để đòi lại công bằng về tiền lương ?

Luật sư tư vấn luật lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Xin chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho luật Minh Khuê. Chúng tôi xin được trả lời bạn như sau:

Bộ luật lao động 2012 có quy định như sau:

"Điều 95. Kỳ hạn trả lương

1. Người lao động hưởng lương giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thoả thuận, nhưng ít nhất 15 ngày phải được trả gộp một lần.

2. Người lao động hưởng lương tháng được trả lương tháng một lần hoặc nửa tháng một lần.

3. Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng."

Việc trả lương tuỳ thuộc vào hợp đồng lao động của bạn với công ty, cách trả lương tháng cũng như lương ca có sự khác biệt như trên.

Ngoài ra, bạn cho biết rằng bạn làm chính thức được 7 ngày thì xin nghỉ phép. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 111 Bộ luật lao động, bạn chỉ được hưởng lương khi nghỉ phép nếu làm đủ 12 tháng tại công ty.

Việc nghỉ bất chợt không có sự thông báo trước cho công ty cũng gây ra nhiều phiền toái và không đúng với quy định về hợp đồng lao động, do vậy việc nhận lương cho số ngày bạn đã làm việc là rất khó, và nó phụ thuộc vào thoả thuận của bạn với công ty đó.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ trụ sở của Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê