“1. Người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền.”
Và tại khoản 2 điều 111 của luật quy định về Nghỉ hàng năm:
 “2. Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động.”
Căn cứ Nội Quy Lao Động Công ty được ban hành và thông báo rộng rãi đến người lao động, những ngày phép năm chưa sử dụng hết trong năm làm việc được mang sang và sử dụng đến hết ngày 30/06 của năm sau.
Trong năm 2013, Công ty có tuyển Người Lao Động vào làm việc sau tháng 01/2013 theo Hợp Đồng Lao Động có thời hạn từ 12 đến 36 tháng. Do đó, tính đến hết tháng 12/2013, những Người Lao Động này có thời gian làm việc tại công ty dưới 12 tháng.
Như vậy,  trong trường hợp Người Lao Động chưa sử dụng hết phép năm thì họ có được mang phép năm sang năm sau theo Nội Quy Lao Động Công ty không, hay bắt buộc Công ty phải thanh toán bằng tiền theo quy định tại khoản 2, điều 114 của Bộ Luật lao động?
Nếu bắt buộc phải thanh toán bằng tiền, thì mức thanh toán sẽ được tính như thế nào?
Mong nhận được tư vấn của Quý công ty!
Người gửi: LX Hoa
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê. 

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900 6162.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Luật Minh Khuê! Vấn đề thắc mắc của bạn xin được giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý

- Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2012

2. Luật sư tư vấn:

Điều 111. Nghỉ hằng năm

1. Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

b) 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật;

c) 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động.

3. Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

4. Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.

Điều 114. Thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ

1. Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ.

2. Người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền.

- Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động

Điều 7. Cách tính số ngày nghỉ hàng năm đối với trường hợp làm không đủ năm

Số ngày nghỉ hằng năm theo Khoản 2 Điều 114 của Bộ luật lao động được tính như sau: Lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm để tính thành số ngày nghỉ hằng năm; kết quả phép tính lấy tròn số hàng đơn vị, nếu phần thập phân lớn hơn hoặc bằng 0.5 thì làm tròn lên 01 đơn vị.

Căn cứ chế độ kế toán doanh nghiệp thì ngày nghỉ hằng năm trong năm tài chính thông thường sẽ được tất toán vào cuối niên độ kế toán. Trường hợp có người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động thì doanh nghiệp sẽ xác định số ngày nghỉ hằng năm, số ngày đã nghỉ, số ngày chưa nghỉ để giải quyết thanh toán chế độ cho người lao động trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, theo đúng quy định tại điều 47 và điều 114 Bộ luật lao động.

Căn cứ khoản 3 điều 111 bộ luật lao động, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ gộp ngày nghỉ hằng năm tối đa 03 năm một lần. Như vậy, công ty quy định những ngày phép năm chưa sử dụng hết trong năm làm việc được mang sang và sử dụng đến hết ngày 30/06 của năm sau hoàn toàn phù hợp quy định về nghỉ hằng năm quy định tại điều 111 Bộ luật lao động. Theo quy định này của công ty thì cuối năm, doanh nghiệp sẽ tiến hành xác định số ngày nghỉ hằng năm mà người lao động được hưởng, số ngày đã nghỉ, số ngày chưa nghỉ để thanh toán, trường hợp không có nhu cầu chuyến sang năm sau số ngày chưa nghỉ thì được thanh toán bằng tiền, trường hợp có nhu cầu chuyển sang năm sau số ngày chưa nghỉ thì được mang sang sử dụng đến hết ngày 30/06 của năm sau.

Trong khi khoản 1 điều 111 bộ luật lao động quy định việc xác định số ngày nghỉ hằng năm khi cá nhân làm việc đủ 12 tháng làm việc, thì khoản 2 điều 114 Bộ luật lao động quy định số ngày nghỉ hằng năm khi cá nhân làm việc không đủ 12 tháng tại đơn vị (trong năm tài chính xác định số ngày nghỉ hằng năm). Cá nhân làm việc không đủ 12 tháng tại đơn vị (đủ hay không đủ 12 tháng xác định trong 1 năm tài chính mà người đó làm việc, không phải xác định cho tổng thời gian làm việc thực tế của người đó) có thể xảy ra trong trường hợp:

- Kí hợp đồng lao động thời hạn dưới 12 tháng thì tính đến thời điểm chấm dứt hợp đồng, người lao động làm việc không đủ 12 tháng làm việc tại đơn vị trong năm chấm dứt hợp đồng;

- Kết thúc hợp đồng lao động trước thời điểm kết thúc năm tài chính thì trong năm đó cũng được xác định là không đủ 12 tháng làm việc;

- Vào làm việc sau tháng 1 dương lịch và vẫn đang thực hiện hợp đồng lao động thì năm đầu tiên làm việc tại đơn vị không đủ 12 tháng;

Như vậy, trường hợp năm tài chính người lao động làm việc không đủ 12 tháng thì sẽ được thanh toán tiền ngày chưa nghỉ nếu chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 1 điều 114 bộ luật lao động, nếu người lao động tiếp tục làm việc tại đơn vị thì được mang sang sử dụng đến hết ngày 30/06 của năm sau, nếu không có nhu cầu nghỉ gộp vào năm sau thì được thanh toán bằng tiền (khoản 2 Điều 114 Bộ luật lao động);

Căn cứ khoản 2 Điều 114 và Điều 7 Nghị định 45/2013/NĐ-CP: Công thức tính số ngày nghỉ hằng năm

Số ngày nghỉ hằng năm đối với trường hợp người lao động có dưới 12 tháng làm việc

 

 

=

Số ngày nghỉ hằng năm

(12 hoặc 14 hoặc 16)

 

 

+

Số ngày nghỉ tăng thêm theo thâm niên

:

  :

 

 

12

 

 

x

Số tháng làm việc thực tế trong năm

Trả lời thắc mắc của quý bạn đọc, trong năm 2013, Công ty có tuyển Người Lao Động vào làm việc sau tháng 01/2013 theo Hợp Đồng Lao Động có thời hạn từ 12 đến 36 tháng. Tính đến hết tháng 12/2013, những Người Lao Động này có thời gian làm việc tại công ty dưới 12 tháng. Nếu Người Lao Động chưa sử dụng hết phép năm thì họ có được mang phép năm sang năm sau theo Nội Quy Lao Động Công ty không, không bắt buộc Công ty phải thanh toán bằng tiền.

Nếu người lao động không nghỉ (chưa nghỉ và không có nhu cầu nghỉ trong năm sau) thì được thanh toán bằng tiền.

Mức thanh toán tiền lương ngày chưa nghỉ = tiền lương ngày chưa nghỉ  x  số ngày chưa nghỉ.

Trong đó:

- Số ngày chưa nghỉ = Số ngày nghỉ phép năm người lao động - Số ngày đã nghỉ

- Tiền lương ngày chưa nghỉ được xác định tùy từng trường hợp:

100% tiền lương nếu người sử dụng không sắp xếp lịch ngày nghỉ hằng năm do không phải tiền lương làm thêm giờ;

300% tiền lương nếu người sử dụng bố trí ngày nghỉ hằng năm, ngày nghỉ hằng năm được xác định một ngày cụ thể là ngày nghỉ có hưởng lương, làm thêm trong ngày nghỉ có hưởng lương được tính mức 300% (Điểm c khoản 1 điều 94 Bộ luật lao động).

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật MInh Khuê 

-----------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

2. Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

3. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

4. Luật sư tư vấn pháp luật lĩnh vực luật lao động;

5. Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án lao động tại toà án;

6. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;