Đến nay đã gần 45 ngày nhưng tôi có liên hệ với Ban giám đốc công ty xin nhận Bảo hiểm xã hội và Giấy quyết định thôi việc để làm đơn xin hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì được công ty thông báo là tôi tự ý bỏ việc, công ty không giải quyết. Còn Sổ BHXH thì chờ thêm 10 ngày nữa mới có kết quả chứ cũng chưa chắc nhận được. Thời gian tôi ký hợp đồng chính thức làm việc tại công ty là 12 tháng.
Xin hỏi quý Luật sư, công ty giải quyết cho tôi như vậy là đúng hay sai? Trường hợp của tôi có đủ điều kiện để nhận bảo hiểm thất nghiệp không? và việc nhận sổ BHXH trễ như vậy là đúng hay sai?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Thịnh

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900 6162.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Cơ sở pháp lý:

- Bộ Luật Lao Động 2012;

- Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2006;

- Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12-12-2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 100/2012;

Nội dung :

+ Về loại hợp đồng:

Theo như thông tin bạn cung cấp, thời gian bạn ký hợp đồng với công ty là 12 tháng đây không phải là hợp đồng không xác định thời hạn.

Theo quy định của Điều 22 Bộ Luật Lao Động 2012 quy định về loại hợp đồng như sau:

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

3. Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.

Như vậy, hợp đồng mà bạn và công ty giao kết là hợp đồng xác định thời hạn theo điểm b khoản 1 điều 22 Bộ luật lao động.

Bạn đã có đơn xin thôi việc, xét theo ý chí thì bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì bản thân không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng. Theo    quy định tại Điều 37 Bộ Luật lao động quy định: Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Do đó, hợp hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng xác định thời hạn (thời hạn của hợp đồng được xác định là 12 tháng) thì bạn phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất là 30 ngày.  Và kể từ khi có đơn xin thôi việc thì bạn phải tiếp tục làm việc ở công ty 30 ngày thì bạn mới có thể chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật.

Khi bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì được xem là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật (Điều 41 Bộ luật Lao động 2012).

Do đó, Theo khoản 1 Điều 43 Bộ luật Lao động 2012, bạn sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc. 

 +  Về điều kiện hưởng Bảo hiểm thất nghiệ p:  

Theo quy định tại Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội, Điều 15 Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12-12-2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 100/2012, thì điều kiện để người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp như sau: 

-  Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm, hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động; 

-  Đã đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. 

-    Chưa tìm được việc làm sau 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động. 

Như vậy, kể từ ngày 1-1-2009 nếu bạn có tham gia bảo hiểm thất nghiệp và đáp ứng đủ các điều kiện để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp nêu trên thì sẽ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp mà không phụ thuộc nguyên nhân chấm dứt hợp đồng lao động. 

Theo Nghị định 127, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp hợp lệ của người lao động, cơ quan lao động có trách nhiệm xem xét và giải quyết. 

+ Về Bảo hiểm xã hội: 

Sau khi chấm dứt hợp đồng lao động thì bên người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả sổ bảo hiểm cho người lao động, vì vậy bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu công ty trả lại sổ bảo hiểm cho bạn.

Trong trường hợp bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, nếu đủ điều kiện để được hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo Hiểm Xã Hội thì bạn vẫn được hưởng các chế độ này. Cụ thể: 

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 của Luật Bảo Hiểm Xã Hội, đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc bạn sẽ được hưởng các chế độ như: ốm đau, thai sản (đối với nữ), tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Để được hưởng các chế độ này bạn phải đủ điều kiện đối với từng chế độ cụ thể (tham khảo thêm Chương III và Chương III của Luật Bảo Hiểm Xã Hội). 

Trong trường hợp, bạn chưa đủ điều kiện để được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội thì có thể tiếp tục đóng phí bảo hiểm khi chuyển sang làm tại tổ chức khác hoặc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 57 của Luật Bảo Hiểm Xã Hội.  

Trân trọng cảm ơn !

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT LAO ĐỘNG

------------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

2. Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

3. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

4. Luật sư tư vấn pháp luật lĩnh vực luật lao động;

5. Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án lao động tại toà án;

6. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;