Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của công ty luật MInh khuê.

Luật sư tư vấn bảo vệ quyền lợi cho người lao động ?

Luật sư tư vấn bảo vệ quyền lợi cho người lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Lao động của Quốc hội, số 10/2012/QH13

2. Luật sư tư vấn:

Chào bạn, vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin được trả lời như sau:

Việc chấm dứt hợp đồng của công ty là Sai vì:

Thứ nhất, không có căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng

Việc chấm dứt hợp đồng của công ty không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 38 luật lao động ( sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007 )  hiện hành. “ Khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động quy định, Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;

b) Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật này;

c) Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 6 tháng liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động dưới 1 năm ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động;

d) Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

đ) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.”

Lý do bất khả kháng khác được giải thích tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định 44/2003/NĐ-CP như sau:

“Lý do bất khả kháng khác là trường hợp yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ cấp tỉnh trở lên, do dịch họa, do dịch bệnh không thể khắc phục được dẫn tới việc phải thay đổi , thu hẹp sản xuất kinh doanh.”

Bên cạnh đó việc chấm dứt hợp đồng của công ty cũng không thuộc trường hợp chấm dứt hợp đồng vì lý do kinh tế (do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ )theo quy định tại Điều 17 Bộ luật lao động. Bạn có thể xem thêm Điều 11 Nghị định 39/2003/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết điều này.

Thứ hai, vi phạm trình tự thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng

- Vấn đề báo trước với ban chấp hành công đoàn theo quy định tại Khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động

- Vi phạm thời gian báo trước, Công ty chỉ báo trước cho nhân viên có 30 ngày trong khi Khoản 3 Điều 38 Bộ luật lao động quy định phải báo trước ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Như vậy công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động. Điều 41 Bộ luật lao động quy định:

“1- Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 2 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này, người lao động còn được trợ cấp theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật này.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận người lao động trở lại làm việc và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này và trợ cấp quy định tại Điều 42 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận về khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

2- Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

3- Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải bồi thường chi phí đào tạo (nếu có) theo quy định của Chính phủ.

4- Trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”

Giả sử việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của công ty là có căn cứ thì việc công ty không trả trợ cấp thôi việc cho nhân viên và giải thích  “…là đã thông báo trước 30 ngày rồi nên không có trợ cấp thôi việc” cũng là Sai. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 42 Bộ luật lao động quy định “ Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có.”        

Như vậy trách nhiệm báo trước và trách nhiệm trợ cấp là trách nhiệm của công ty buộc phải thực hiện cả 2.

Những điều cần lưu ý: Vấn đề bồi thường được xác định dựa trên yếu tố lỗi thuộc người lao động hay chủ sử dụng lao động. Vì tình huống bạn không nói rõ lý do tại sao chủ sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng nên chúng tôi phân tích thành các tình huống để bạn tham khảo.

Tham khảo bài viết liên quan:

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Tư vấn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Điều kiện để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Một số sơ suất khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Người sử dụng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có được trợ cấp không?

Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Mức bồi thường của công ty khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động ?

Thủ tục, chế độ khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Lao động - Công ty luật Minh Khuê