Cho đến năm 2014, công ty vẫn chưa đóng bảo hiểm xã hội tại Việt Nam cho tôi với lý do là công ty đã đóng bảo hiểm tại Nhật Bản rồi. Và từ năm 2015, công ty ký lại hợp đồng của tôi tại văn phòng Đại diện với mức lương là 0VND (công ty vẫn chi trả lương tại Nhật cho tôi). Luật sư cho tôi được hỏi như dưới đây Câu hỏi:

1. Bảo hiểm xã hội của tôi, nếu không đóng thì sẽ ảnh hưởng gì đến công ty?

2. Trưởng văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài, có thể ký hợp đồng với mức lương là 0VND được không ? ( Theo như tôi được biết, thì mức lương tối thiểu của trưởng văn phòng đại diện trên giấy tờ bắt buộc là phải trên 500USD)

3. Từ năm 2015 cho đến nay, vì mức lương của tôi trên giấy tờ là 0VND(hợp đồng tại Việt Nam), nên công ty không đóng thuế TNCN. Vậy , văn phòng đại diện không đóng thuế TNCN như vậy có phải là phạm pháp không ? Nếu bên sở thuế phát hiện ra điều này thì người phải chịu là tôi (trưởng văn phòng đại diện tại Việt Nam) hay là công ty mẹ tại Nhật Bản?

Kính mong luật sư giải đáp thắc mắc dùm tôi.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn Luật lao động của công ty luật Minh Khuê.

>> Tư vấn Luật lao độn trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê, vấn đề bạn quan tâm chúng tôi xin trao đổi như sau:

1.Căn cứ pháp lý

Bộ luật dân sự 2015

Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13

Luật thuế thu nhập cá nhân 72/2006/QH11

2. Nội dung tư vấn 

Thứ nhất, về việc không đóng BHXH.

Theo như ông trình bày, ông ký hợp đông với mức lương là 0đ và trên thực tế cũng không nhận lương từ chi nhánh đại diện ở Việt Nam. Như vậy, tên ông sẽ không nằm trong bảng lương của chi nhánh, cũng không được hoạch toán trong hồ sơ kế toán. Như vậy, theo phương thức tính mức đóng BHXH bắt buộc thì trường hợp của ông không phải đóng BHXH. Nếu Chi nhánh đại diện ở Việt Nam chứng minh được mức lương thực tế của ông là 0 đồng thì cơ quan thuế cũng không có cơ sở để xử lý.

Thứ hai, về việc có được hưởng lương 0 VNĐ hay không?

Thì theo quy định tại khoản 2 Điều 3 BLDS về nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì:

“2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.”

Và theo quy định tại Điều 385 BLDS về khái niệm của hợp đồng:

“Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Như vậy, Hợp đồng là do các bên tự do, tự nguyện, cam kết,  thỏa thuận ký kết. Chỉ cần không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội thì hợp đồng của trưởng văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài với mức lương là 0VNĐ vẫn hoàn toàn phù hợp với pháp luật.

Thứ ba, về việc đóng thuế TNCN

Tương tự như việc đóng BHXH, do ông không có tên trong bảng lương, tiền lương không được hoạch toán và cũng không được chi trả thực tế tại Chi nhánh ở Việt Nam nên khi tính thuế TNCN mà Chi nhánh phải đóng cho ông là 0đ. Như vậy, chi nhánh không phải đóng thuế TNCN cho ông.

Thứ 4, nếu công ty thuế phát hiện ra việc ông có ký kết hợp đồng và được chi trả lương ở nước ngoài:

Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, từ ngày 1/1/2016 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Sau khi cơ quan thuế phát hiện số tiền lương mà ông ký với công ty ở Nhật thì ông sẽ bị truy thu số tiền BHXH. Như thế, ông là người phải chịu trách nhiệm đóng khoản tiền này.

Bên cạnh đó, ông trình bày công ty đóng bảo hiểm xã hội cho ông tại Nhật. Hiện nay, giữa Nhật Bản và Việt Nam chưa có hiệp định song phương về an sinh xã hội, sau này khi hết hợp đồng và về nước ông có nguy cơ mất khoản tiền bảo hiểm xã hội đã đóng tại Nhật do không thể chuyển về Việt Nam.

Và ông cũng không được hưởng BHXH tại Việt Nam do không thực hiện đóng bảo hiểm, đóng không đủ thời gian hưởng BHXH tại Việt Nam

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật lao động