Em cảm thấy công việc không như lúc đầu giao kèo làm ở văn phòng. Và em có xin chị giám đốc nghỉ việc,chị ấy đã đồng ý và gọi em lên văn phòng bàn giao lại tất cả tài sản và giấy tờ cho công ty. Em đã làm đúng theo yêu cầu của chị ấy, và em yêu cầu chị ấy cho em lãnh luôn phần lương 22 ngày làm việc, chị ấy nói không có mang tiền mặt, để cuối tháng chuyển khoản cho em và em cũng đồng ý,đến cuối tháng em hỏi chị ấy nói đầu tháng sau sẽ trả, rồi đầu tháng chị ấy nói đợi thêm 2 ngày nữa ( tất cả đều có tin nhắn làm bằng chứng) rồi lại không có. Em hỏi thì chị ấy cho em 1 số điện thoại bảo em liên lạc vì người này quyết định trả lương cho em, mà người này em chưa từng biết và lúc thuê em cũng không có sự hiện diện của người này, mà người này nói chuyện rất ngang ngược và nói không trả lương Xin hỏi luật sư giờ em phải làm cách nào để lấy lại tiền lương để cho họ sau này không còn bốc lột sức lao động của người khác Chân thành cám ơn luật sư.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của công ty luật Minh Khuê.

thanh toán tiền lương sau khi chấm dứt hợp đồng lao động ?

Luật sư tư vấn luật lao động, Gọi 1900.6162

Trả lời:

Kính thưa quý khách hàng, công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin được trả lời như sau:

Cơ sở pháp luật

Bộ luật Lao động 2012

Nội dung phân tích:

Căn cứ vào quy định tại Điều 47 Bộ luật Lao động 2012 về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, công ty có nghĩa vụ phải thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của bạn trong thời hạn 7 ngày làm việc, trường hợp đặc biệt thì có thể kéo dài hơn, nhưng thời hạn tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động. Bạn không nói rõ thời gian mà công ty chậm thanh toán tiền lương cho bạn là bao lâu, nhưng nếu công ty không tiến hành hoàn trả tiền lương cho bạn trong thời hạn nêu trên thì đó là hành vi trái pháp luật.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể khiếu nại đến ban lãnh đạo công ty, nếu sự việc không được giải quyết thì bạn có thể căn cứ vào các điều luật sau của Bộ luật Lao động 2012:

Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Điều 202. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Như vậy, bạn có thể đưa vụ việc ra giải quyết tại hòa giải viên lao động trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày phát hiện quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm. Nếu như hòa giải không thành thì bạn có thể tiến hành khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân trong thời hạn 1 năm kể từ ngày phát hiện ra quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm.

 Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Mọi vướng mắc xin vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật lao động.