1. Người lao động A làm việc từ tháng 11/2015 đến 11/2018. Mức lương ổn định là 9.300.000 đồng. Nhưng người này có 6 tháng hưởng chế độ thai sản là vào tháng 3/2016 đến tháng 8/2016.

2. Người lao động B làm việc với hợp đồng 1 năm, bắt đầu từ tháng 11/2016 đến tháng 11/2018. Có 2 tháng bị tạm giam (tháng 5 và tháng 6) nhưng sau được kết luận vô tội nên công ty lại cho quay trở lại làm việc. Mức lương của họ có sự biến động, trong vòng 1 năm đầu mức lương là 6 triệu, 1 năm sau là 6.300.000 đồng.

Cả hai người lao động này đều là người có kinh nghiệm được mời về cho nên công ty không có thời gian thử việc với họ. Họ được tham gia bảo hiểm xã hội ngay từ tháng đầu mới vào làm việc.

Trả lời

1. Cơ sở pháp lý.

Bộ luật lao động 2012

Nghị định 05/2015/NĐ-CP

2. Luật sư trả lời.

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 48 Bộ luật lao động 2012 quy định về trợ cấp thôi việc, cụ thể:

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Đồng thời, Điều 48 Bộ luật lao động 2012 được hướng dẫn bởi khỏan 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP như sau:

3 .Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

Từ những căn cứ trên ta có thể thấy rằng:

Đối với trường hợp 1: Tháng 11/2018 là thời điểm hết hạn hợp đồng lao động của chị A cho nên thuộc trường hợp chấm dứt hợp đồng lao đồng theo khỏan 1 Điều 36 Bộ luật lao động 2012, đồng thời chị A đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động 3 năm. Do đó, chị A đủ điều kiện được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật.

Căn cứ khỏan 6 Điều 42 Quyết định 595/QĐ-BHXH quy định:

Điều 42. Quản lý đối tượng

...

6. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì đơn vị và người lao động không phải đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, thời gian này được tính là thời gian đóng BHXH, không được tính là thời gian đóng BHTN và được cơ quan BHXH đóng BHYT cho người lao động…

Như vậy, quãng thời gian hưởng chế độ thai sản của chị A không được tính là thời gian đóng BHTN. Được tính là thời gian làm việc thực tế để hửơng chế độ trợ cấp thôi việc.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của chị A là 06 tháng ( 06 tháng hưởng chế độ thai sản không tham gia đóng BHTN). Do đó, mức hưởng trợ cấp thôi việc của chị A là ¼ tháng tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi thôi việc ( tương ứng với 3.235.000 đồng).

Đối với trường hợp thứ 2: Tháng 11/2018 là thời điểm hết hạn hợp đồng lao động của B cho nên thuộc trường hợp chấm dứt hợp đồng lao đồng theo khỏan 1 Điều 36 Bộ luật lao động 2012, đồng thời B đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động 2 năm. Do đó, B đủ điều kiện được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật.

Người lao động bị tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội. Thì thời gian bị tạm giam này được tính là thời gian người lao động làm việc thực tế cho người sử dụng lao động để tính trợ cấp thôi việc. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của B là 2 tháng và được tính bằng 1/2 năm. Do đó, mức hưởng trợ cấp thôi việc của B là là ¼ tháng tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi thôi việc ( tương ứng với 1.575.000 đồng).

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến bạn chưa hiểu hết vấn đề hoặc và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162để được giải đáp.

Trân trọng./.

Phan Huyền - Bộ phận tư vấn pháp Lao động- Công ty luật Minh Khuê