Câu hỏi: Lúc trước tôi làm việc trong một công ty quản lý xây dựng cầu đường được hơn 12 năm, có đóng BHXH đày đủ, sau đó tôi có xin về một công ty khác thuộc ngành quản lý cầu đường, thời gian đầu vào làm với thời gian thử việc 3 tháng, hợp đồng tính lương cho tôi theo bậc chuyên viên bậc 4 (3.33), sau thời gian thử việc 3 tháng từ ngày 1/6/2015 đến ngày 31/8/2015), lãnh đạo công ty trên nói do nhân sự đang bị biến động nên không ký hợp đồng chính thức với tôi, nếu tôi muốn làm việc tiếp với công ty thì phải ký tiếp hợp đồng thời vụ với mức lương 3 triệu đồng 1 tháng, làm việc cà ngày thứ bảy, chủ nhật, lễ, tết kể cả thời gian tăng ca. trong suốt thời gian trên (từ ngày 1/9/2015 đến hết ngày 31/12/2015), Công ty này không đăng ký đóng BHXH cho tôi, công việc công ty này giao cho tôi tôi luôn hoàn thành tốt, đến ngày hôm nay, sau khi hết thời gian công ty ký hợp đồng thời vụ với tôi được hơn 50 ngày , công ty này vãn không chịu ký lại hợp đồng với tôi, trong khi đó tôi vẫn tiếp tục làm việc cho công ty từ thời gian đó cho đến nay, tiền lương hàng tháng công ty này cũng không thanh toán cho tôi, Vậy luật sư cho tôi hỏi Công ty này có vi phạm luật lao độnng không, tôi phải khiếu nại ở đâu để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

 

Trả lời: 
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 I. Cơ sở pháp lý

- Bộ Luật lao động năm 2012 

II. Nội dung tư vấn

Vấn đề của bạn chúng tôi nhận định như sau:

Đối với việc công ty có vi phạm pháp luật hay không?


Thứ nhất theo như Bạn mô tả thì bạn đã tham gia thử việc theo yêu cầu của công ty là 3 tháng tương đương 90 ngày.  Căn cứ  Điều 27 của Bộ luật lao động 2012 thì: 
“ Điều 27. Thời gian thử việc
Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:
1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.”


Căn cứ trên cho thấy thời gian thử việc tối đa là 60 ngày, tương đương 2 tháng. Do đó thời gian mà công ty quy định là 90 ngày cho bạn là đã trái với quy định này là 30 ngày.


Thứ hai đối với tiền lương trong thời gian thử việc bạn chỉ cho chúng tôi biết là bạn  được tính lương theo bậc chuyên viên bậc 4 (3.33). Nhưng chúng tôi không biết tiền lương chính thức đối với công việc đó là bao nhiêu. Tuy nhiên,  bạn có thể căn cứ vào Điều 28 của Bộ luật lao động 2012 dưới đây để tính được việc bạn nhận được mức lương bậc 4 (3.33) có đúng không.


“Điều 28. Tiền lương trong thời gian thử việc
Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.”


Thứ ba là việc bạn đã trải qua và hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian thử việc 3 tháng và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ thì sau khi kết thúc thời gian thử việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với bạn. Nhưng trong khi đó chủ sử dụng lao động lại ký tiếp hợp đồng thời vụ với mức lương 3 triệu đồng 1 tháng là hoàn toàn trái với quy định. Với lý do cho rằng công ty đang biến đông nhân sự nhưng  lại cần bạn làm việc và còn phải làm cả ngày thứ bảy, chủ nhật, lễ, tết kể cả thời gian tăng ca thì cho thấy rằng lý do không ký bản hợp đồng chính thức cho bạn là hoàn toàn không có cơ sở. Vấn đề này được quy định tại Khoản 1 Điều 29 Bộ luật lao động 2012 như sau.
“Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc
1.    Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.”


Thứ tư, việc công ty “buộc”  bạn phải làm việc cả ngày ngày thứ bảy, chủ nhật, lễ, tết kể cả thời gian tăng ca là hoàn toàn sai quy định ( trừ khi việc này là bạn tự nguyện) . Điều này được quy đinh tại  Bộ luật lao động 2012 như sau :


“Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của người lao động
1. Người lao động có các quyền sau đây:
b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể;

"Điều 110. Nghỉ hằng tuần

1. Mỗi tuần, người lao động được nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục. Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể nghỉ hằng tuần, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày.

2. Người sử dụng lao động có quyền quyết định sắp xếp ngày nghỉ hằng tuần vào ngày chủ nhật hoặc một ngày cố định khác trong tuần nhưng phải ghi vào nội quy lao động.


Điều 115. Nghỉ lễ, tết
1. Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây:
a) Tết Dương lịch 01 ngày (ngày 01 tháng 01 dương lịch);
b) Tết Âm lịch 05 ngày;
c) Ngày Chiến thắng 01 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch);
d) Ngày Quốc tế lao động 01 ngày (ngày 01 tháng 5 dương lịch);
đ) Ngày Quốc khánh 01 ngày (ngày 02 tháng 9 dương lịch);
e) Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 01 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).”

Thứ năm là đối với hợp đồng lao động thời vụ:
-    Sau khi hết hợp hạn hợp đồng thời vụ ( sau ngày 31/12/2015) là 50 ngày công ty vấn không ký gia hạn hợp đồng lao động với bạn thì hợp đồng lao động của bạn được xác định là hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng. Căn cứ vào khoản 2 điều 22 của Bộ luật lao động 2012 như sau:
“Điều 22. Loại hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2.    Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.
Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.”


- Về việc công ty không đăng ký tham gia BHXH cho bạn, để khẳng định công ty đúng hay sai cần căn cứ vào loại hợp đồng mà bạn ký. Nếu loại hợp đồng từ 3 tháng trở lên thì công ty buộc phải đóng BHXH cho bạn.   


- Về lương hàng tháng, công ty không thanh toán là sai Nếu trả chậm quá 1 tháng thì sẽ phải trả thêm cho bạn một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất tiền gửi do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương theo quy định tại Điều 69 của Bộ luật lao động 2012:
“Điều 96. Nguyên tắc trả lương
Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.
Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương”.

Vấn đề phải khiếu nại lên người có thẩm quyền nào đề giải quyết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bạn?
Để giải quyết tranh chấp, bạn có thể gửi đơn khiếu nại lên người sử dụng lao động để yêu cầu giải quyết, trường hợp không được giải quết, bạn  có thể viết đơn lên UBNB huyện cùng nơi, bạn đang làm việc yêu cầu Hòa giải viên lao động đứng ra giải quyết cho bạn, nếu hòa giải không thành thì bạn có thể viết đơn khởi kiện lên tòa án cùng nơi công ty đóng trụ sở để giải quyết.Vấn đề này được căn cứ vào Khoản 1,Điều 198, Điều 201 của Bộ luật lao động 2012 quy định:
“Điều 198. Hòa giải viên lao động
1. Hoà giải viên lao động do cơ quan quản lý nhà nước về lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cử để hoà giải tranh chấp lao động và tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề.
“Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động    
1.    Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết,
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.
4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Chúc bạn thành công!

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email:  luatsu@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. 

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê