Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Manh Nguyen

Tư vấn pháp luật lao động - Ảnh minh họa

Trả lời câu hỏi:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi. Sau đây, tôi xin trả lời tình huống của bạn.

Trước hết, về cơ sở pháp lí. Vì thời điểm bạn nhắc đến trong tình huống trên là trước 1/5/2013 nên ta áp dụng Bộ luật lao động (BLLĐ) năm 2012.

Vấn đề mà bạn nhắc đến ở đây là trường hợp người lao động (NLĐ) đơn phương chấm dứt hợp đồng. Tại BLLĐ có quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, luật cũng quy định rất cụ thể về trường hợp đơn phương chấm dứt HĐ đối với từng loại hợp đồng như sau:

1. Đối với HĐLĐ xác định thời hạn, hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một số công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt trong một số trường hợp quy định tại Điều 37 BLLĐ.

- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

- Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

- Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

- Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

- Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

-   Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng l ao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

Các trường hợp HĐLĐ xác định thời hạn thì NLĐ phải báo trước cho Người sử dung lao động ít nhất 30 ngày, những trường hợp khác báo trước 3 ngày.

2. Đối với HĐLĐ không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong mọi trường hợp với điều kiện phải báo trước cho người sử dụng lao động trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156  về lao động nữ mang thai.

Vì bạn không nói rõ trường hợp trên là kí HĐLĐ với thời hạn có xác định hay không nên nếu trường hợp mà bạn nêu trên kí HĐLĐ không xác định thời hạn và đã báo trước 2 tháng thì theo quy định của pháp luật là hoàn toàn hợp lí. 

Về trách nhiệm và nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng được quy định tại Điều 43 BLLĐ. Cụ thể, anh A trong trường hợp trên có một số nghĩa vụ sau:

- Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

- Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

-  Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Hi vọng rằng, nếu có bất kì thắc mắc về vấn đề pháp lí nào, bạn sẽ liên hệ với chúng tôi qua email lienhe@luatminhkhue.vn hoăc qua tổng đài 1900 6162 để được hỗ trơ tư vấn trực tiếp.

Trân trọng cảm ơn!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT

-----------------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

2. Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

3. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

4. Luật sư tư vấn pháp luật lĩnh vực luật lao động;

5. Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án lao động tại toà án;

6. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;