Mong sớm nhận được câu trả lời Luật sư. Cảm ơn nhiều!
Trân trọng
Thủy

Trả lương bằng ngoại tệ cho nhân viên người nước ngoài ?

(Tư vấn Luật lao động gọi: 1900.6162)

Trả lời:

Cơ sở pháp lý:

Nội dung trả lời:

Thứ nhất, về vấn đề có thể trả lương cho nhân viên nước ngoài qua tài khoản ngoại tệ của họ ở nước ngoài  không?

 - Căn cứ Mục 1 Điều 2 Thông tư số 16/2014/TT-NHNN: “Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối (sau đây gọi là ngân hàng được phép).”

- Căn cứ Tiểu mục d  Mục 1 điều 4 Thông tư số 16/2014/TT-NHNN: “Người cư trú là cá nhân được sử dụng tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi sau đây:d) Thu ngoại tệ từ các nguồn thu hợp pháp trong nước, bao gồm:- Người cư trú là cá nhân nước ngoài được thu các khoản lương, thưởng phụ cấp, mua ngoại tệ từ nguồn đồng Việt Nam hợp pháp;

- Căn cứ Tiểu mục d  Mục 1 điều 6 Thông tư số 16/2014/TT-NHNN: “Người không cư trú là cá nhân được sử dụng tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi sau đây:1. Thu:d) Thu ngoại tệ từ các nguồn thu hợp pháp khác trong nước, bao gồm:- Lương, thưởng, phụ cấp, mua ngoại tệ từ nguồn đồng Việt Nam hợ pháp;”

Trường hợp của bạn không nêu rõ nhân viên nước ngoài này có cư trú hay không cư trú tại Việt Nam tuy nhiên theo quy định nêu trên tại Thông tư số 16/2014/TT-NHNN thì về việc nhân viên đó cư trú trên lãnh thổ Việt Nam hay không thì khi trả lương cho nhân đó bạn đều  có thể trả qua tài khoản ngoại tệ  của họ ở nước ngoài tại ngân hàng thương mại chi nhánh của ngân hàng nước ngoài được kinh doanh cung ứng dịch vụ ngoại hối.

Thứ hai, về vấn đề nếu nhận tiền lương tại Việt Nam thì người nước ngoài có thể trả lương bằng ngoại tệ không?

- Căn cứ điểm 13 khoản 1 điều 1 Pháp lệnh ngoại hối sửa đổi bổ sung năm 2013: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”

          - Căn cứ khoản 2 điều 4 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005( Sửa đổi bổ sung năm 2013): “2. Người cư trú là tổ chức, cá nhân thuộc các đối tượng sau đây:a) Tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam (sau đây gọi là tổ chức tín dụng);b) Tổ chức kinh tế được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trừ đối tượng quy định tại điểm a khoản này (sau đây gọi là tổ chức kinh tế);c) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của Việt Nam hoạt động tại Việt Nam;d) Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam tại nước ngoài;đ) Văn phòng đại diện tại nước ngoài của các tổ chức quy định tại các điểm a, b và c khoản này;”.

- Căn cứ khoản 3 điều 4 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005( Sửa đổi bổ sung năm 2013): “3. Người không cư trú là các đối tượng không quy định tại khoản 2 Điều này.”

- Căn cứ Mục 14 điều 4 Thông tư số 32/2013/TT-NHNN: “14. Người cư trú, người không cư trú là tổ chức được thỏa thuận và trả lương, thưởng, phụ cấp trong hợp đồng lao động bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt cho người không cư trú và người cư trú là người nước ngoài làm việc cho chính tổ chức đó.”

Mặc dù việc giao dịch bằng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam là một trong những cản trở rất lớn đối với các tổ chức khi có người nước ngoài làm việc tuy nhiên pháp luật hiện hành vẫn có quy định cho phép việc giao dịch trên được thực hiện nếu thuộc trường hợp được ngân hàng nhà nước cho phép. Trong trường hợp của bạn thì khi tổ chức của bạn đang làm việc là một trong các đối tượng quy định tại khoản 2, khoản 3 điều 4 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 thì việc trả lương bằng ngoại tệ cho người nước ngoài làm việc cho chính tổ chức của bạn là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật vì nó thuộc một trong các trường hợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ ba, về vấn đề chuyển tiền tiết kiệm từ tiền lương ra nước ngoài của người nước ngoài.

- Căn cứ khoản 4 điều 8 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005(Sửa đổi bổi sung năm 2013): “Người không cư trú, người cư trú là người nước ngoài có ngoại tệ trên tài khoản được chuyển ra nước ngoài; trường hợp có nguồn thu hợp pháp bằng đồng Việt Nam thì được mua ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài.”

Như vậy nếu tiền tiết kiệm là đồng Việt Nam thì nười nước ngoài đó  mua ngoại tệ để chuyển đổi, còn số tiền đó là ngoại tệ thì họ đương nhiên thực hiện việc chuyển ra nước ngoài thông qua việc sử dụng tài khoản tại các ngân hàng thương mại ,chi nhánh ngân hàng nước ngoài được kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối. Đây là hình thức chuyển tiền một chiều từ Việt Nam ra nước ngoài của người nước ngoài không có bất kỳ một quy định hạn chế nào của pháp luật.Vì vậy khi tiết kiệm tiền trong tài khoản thì người nước ngoài hoàn toàn có thể thực hiện việc chuyển tiền ra nước ngoài.

Trân Trọng.

Bộ phân tư vấn Luật lao động - Công ty Luật Minh Khuê