1. Trách nhiệm công ty khi người lao động thời vụ bị tai nạn lao động ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Công ty tôi chuyên về sản xuất, có tuyển lao động thời vụ dưới 3 tháng nhưng không giao kết hợp đồng bằng văn bản, gần đây công ty có xra trường hợp nhân viên thời vụ bị tai nạn khi trên đường từ công ty tôi về nhà. Luật sư cho tôi hỏi đối với lao động thời vụ thì công ty tôi cần có trách nhiệm như nào khi người lao động bị tai nạn lao động?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: P.T

Trách nhiệm công ty khi người lao động thời vụ bị tai nạn lao động ?

Luật sư tư vấn luật lao động gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Điều 16 Bộ luật Lao động 2012 quy định về hình thức hợp đồng:

"1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói."

Theo quy định của pháp luật, đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 3 tháng có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói. Như vậy, trong trường hợp này công ty và người lao động không giao kết hợp đồng bằng văn bản nhưng hợp đồng vẫn có giá trị kể từ thời điểm các bên giao kết.

Điều 3 Thông tư liên tịch 12/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT Hướng dẫn khai báo, điều tra, thống kê và báo cáo tai nạn lao động quy định:

"1.Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, bao gồm:

a) Tai nạn lao động xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;

b) Tai nạn lao động xảy ra trong quá trình thực hiện công việc, nhiệm vụ khác theo sự phân công của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động uỷ quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;

c) Tai nạn lao động xảy ra đối với người lao động khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết mà Bộ luật Lao động và nội quy của cơ sở cho phép (nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, cho con bú, tắm rửa, đi vệ sinh).

2. Những trường hợp tai nạn được coi là tai nạn lao động xảy ra tại địa điểm và thời gian hợp lý, bao gồm:

a) Tai nạn xảy ra đối với người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở;

b) Tai nạn xảy ra cho người lao động Việt Nam trong khi thực hiện nhiệm vụ ở nước ngoài do người sử dụng lao động giao (tham dự hội nghị, hội thảo, học tập ngắn hạn, nghiên cứu thực tế)."

Mặc khác, Khoản 3 Điều 19 Nghị định 152/2006/NĐ-CP Hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc có giải thích:

"Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý. Trong khoảng thời gian hợp lý là khoảng thời gian cần thiết để đến nơi làm việc trước giờ làm việc hoặc trở về sau giờ làm việc. Tuyến đường hợp lý là tuyến đường thường xuyên đi và về từ nơi thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú đến nơi làm việc và ngược lại."

Như vậy, chỉ được coi là tai nạn lao động khi và chỉ khi người lao động bị tai nạn trên đường từ công ty về nhà trên tuyến đường thường xuyên đi và về từ công ty đến nơi cư trú và trong khoảng thời gian cần thiết để đến nơi làm việc trước giờ hoặc trở về sau giờ làm việc.

Người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau khi người lao động bị tai nạn lao động theo Điều Điều 144, 145 Bộ luật lao động như sau:

"Điều 144. Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

2. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

3. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này.

Điều 145. Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

2. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.

3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này."

Đối chiếu với quy định trên, công ty bạn có trách nhiệm thanh toán các khoản chi phí, trả đủ tiền lương cho người lao động theo Khoản 1, 2 Điều 144 nêu trên. Ngoài ra, công ty sẽ xác định tỷ lệ thương tật của người lao động để có những bồi thường hợp lý cho người lao động. Trân trọng ./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Tư vấn hưởng trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng suốt đời ?

2. Bị tai nạn lao động nhưng không được đóng bảo hiểm, chế độ thế nào ?

Thưa Luật sư, anh trai tôi đang làm việc bị máy chèn nát một cánh tay phải phẫu thuật cắt bỏ. Nhưng anh trai tôi làm việc trong công ty đó không đóng bảo hiểm thì có được tiền bồi thường và trợ cấp hàng tháng của công ty không ạ ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Tai nạn lao động được định nghĩa tại Thông tư liên tịch số 12/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT Hướng dẫn việc khai báo, điều tra, thống kê và báo cáo tai nạn lao động quy định như sau:

"Điều 3. Tai nạn lao động

1.Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, bao gồm:

a) Tai nạn lao động xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;

b) Tai nạn lao động xảy ra trong quá trình thực hiện công việc, nhiệm vụ khác theo sự phân công của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động uỷ quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;

c) Tai nạn lao động xảy ra đối với người lao động khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết mà Bộ luật Lao động và nội quy của cơ sở cho phép (nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, cho con bú, tắm rửa, đi vệ sinh).

2. Những trường hợp tai nạn được coi là tai nạn lao động xảy ra tại địa điểm và thời gian hợp lý, bao gồm:

a) Tai nạn xảy ra đối với người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở;

b) Tai nạn xảy ra cho người lao động Việt Nam trong khi thực hiện nhiệm vụ ở nước ngoài do người sử dụng lao động giao (tham dự hội nghị, hội thảo, học tập ngắn hạn, nghiên cứu thực tế).".

Như vậy, theo điểm b như nêu ở trên thì trường hợp anh trai của bạn bị tai nạn khi đang làm việc được coi là tai nạn lao động.

Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động khi bị tai nạn lao động được quy định tại Điều 114, Điều 145 Bộ luật lao động năm 2012:

“Điều 144. Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

2. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

3. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này”.

“Điều 145. Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

2. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.

3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này”.

Ở đây, nếu anh trai của bạn là đối tượng phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng công ty lại không đóng thì công ty phải trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 cụ thể như sau:

"Điều 42. Trợ cấp một lần

1. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần.

2. Mức trợ cấp một lần được quy định như sau:

a) Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng năm tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung;

b) Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

Điều 43. Trợ cấp hằng tháng

1. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng.

2. Mức trợ cấp hằng tháng được quy định như sau:

a) Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung;

b) Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

Điều 45. Cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình

Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật.

Điều 48. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị thương tật, bệnh tật

1. Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày.

2. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Bị tai nạn lao động xin điều trị ngoại trú được không ?

3. Chết trong giờ nghỉ giải lao có phải là tai nạn lao động ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Anh tôi làm ở nhà máy dệt trong giờ làm việc anh tôi nghỉ giải lao và đã bị chết trong lúc đi nghỉ giải lao mà chết trong phòng nghỉ của công ty. Trường hợp của anh tôi có được coi là tai nạn lao động không? Trong trường hợp này bên gia đình tôi nên làm gì để cho vợ và con anh được bồi thường ổn định cuộc sống sau này.
E xin cảm ơn!
Người gửi: T.P

>> Luật sư tư vấn xử lý tai nạn lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi vào chuyên mục tư vấn luật lao động của chúng tôi, câu hỏi của bạn được trả lời như sau:

Tai nạn lao động được định nghĩa theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định 45/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động thì tai nạn của bạn là tai nạn lao động:

Điều 12. Tai nạn lao động và sự cố nghiêm trọng

1. Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động, kể cả trong thời gian nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tấm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, chuẩn bị và kết thúc công việc tại nơi làm việc.

2. Tai nạn được coi là tai nạn lao động là tai nạn xảy ra tại địa điểm và thời gian hợp lý khi người lao động đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở.

3. Tai nạn lao động được phân loại như sau:

a) Tai nạn lao động chết người;

b) Tai nạn lao động nặng;

c) Tai nạn lao động nhẹ.

4. Sự cố nghiêm trọng là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động (không bao gồm tai nạn lao động) gây thiệt hại lớn về tài sản của người lao động, người sử dụng lao động.

Như vậy, trường hợp anh bạn chết trong giờ giải lao, trong phòng nghỉ giải lao sẽ được coi là tai nạn lao động.

Trường hợp người lao động bị chết do tai nạn lao động, thì thân nhân sẽ được hưởng các chế độ trợ cấp từ công ty và cơ quan bảo hiểm như sau:

* Về phía công ty:

Căn cứ theo Điều 144 Bộ luật lao động 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, cụ thể là:

"1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

2. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

3. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này".

Và tại Điều 145 Bộ luật lao động 2012 quy định về quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là:

" Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động".

"Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này".

Do đó, trong trường hợp này, công ty phải trả ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động, còn nếu trường hợp do lỗi của người lao động thì công ty vẫn phải trả ít nhất 12 tháng tiền lương cho thân nhân người lao động, cùng với các chi phí không nằm trong danh mục bảo hiểm y tế. Đồng thời, thân nhân còn được hưởng trợ cấp thôi việc của người lao động đó tương ứng mỗi năm làm việc tại công ty (nhưng trừ đi thời gian người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp) là 0.5 tháng tiền lương.

* Về phía cơ quan bảo hiểm:

- Theo Điều 47 Luật bảo hiểm xã hội 2006 quy định về trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là: "Người lao động đang làm việc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba mươi sáu tháng lương tối thiểu chung".

- Trợ cấp mai táng: theo Điều 63 Luật bảo hiểm xã hội 2006 là 10 tháng tiền lương tối thiểu chung

- Đồng thời, theo quy định tại Điều 64 Luật bảo hiểm xã hội 2006 thì trường hợp người lao động chết do tai nạn lao động thì thân nhân sẽ được hưởng trợ cấp hằng tháng như sau:

+ Con chưa đủ mười lăm tuổi; con chưa đủ mười tám tuổi nếu còn đi học; con từ đủ mười lăm tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

+ Vợ từ đủ năm mươi lăm tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ sáu mươi tuổi trở lên; vợ dưới năm mươi lăm tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

+ Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ, mẹ vợ hoặc người khác mà người lao động đã chết này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu từ đủ sáu mươi tuổi trở lên đối với nam, từ đủ năm mươi lăm tuổi trở lên đối với nữ; hoặc dưới sáu mươi tuổi đối với nam, dưới năm mươi lăm tuổi đối với nữ và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

Thân nhân là vợ, cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ, mẹ vợ quy định trên phải không có thu nhập hoặc có thu nhập hằng tháng nhưng thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

Trường hợp này, thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng là không quá 04 người và phải đủ điều kiện trên.

Và mức trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân là: bằng 50% mức lương tối thiểu chung; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương tối thiểu chung.

Vậy, cơ quan bảo hiểm phải chi trả cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động bao gồm: trợ cấp một lần và trợ cấp mai táng là 46 tháng tiền lương tối thiểu chung. Đồng thời, thân nhân còn được hưởng chế độ trợ cấp tuất hằng tháng như trên.

Qua những phân tích trên thì bạn cũng nhận thấy rằng những người thân của anh bạn sẽ được hưởng các chế độ bảo hiểm cũng như nghĩa vụ bồi thường, thanh toán từ công ty nơi làm việc của anh bạn. Đây là quyền của thân nhân anh bạn nên gia đình anh bạn có quyền yêu cầu cơ quan bảo hiểm, người sử dụng lao động bồi thường, trợ cấp.

Hồ sơ để được hưởng chế độ bảo hiểm bao gồm:

1. Sổ bảo hiểm xã hội.

2. Văn bản đề nghị giải quyết chế độ tai nạn lao động của người sử dụng lao động (mẫu số 05A-HSB).

3. Biên bản điều tra tai nạn lao động theo quy định.

4. Giấy ra viện (bản chính hoặc bản sao có chứng thực hoặc bản chụp) sau khi đã điều trị thương tật tai nạn lao động ổn định đối với trường hợp điều trị nội trú hoặc giấy tờ khám, điều trị thương tật ban đầu đối với trường hợp điều trị ngoại trú.

5. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa.

6. Trường hợp bị tai nạn giao thông được xác định là tai nạn lao động thì có thêm một trong các giấy tờ sau:

6.1. Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông (bản sao có chứng thực).

6.2. Biên bản tai nạn giao thông của cơ quan công an hoặc cơ quan điều tra hình sự quân đội (bản sao có chứng thực).

Hy vọng giải đáp của chúng tôi có thể giúp đỡ được phần nào vướng mắc của bạn, hoặc bạn có thể trao đổi trực tiếp với luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162 để được tư vấn trực tuyến. Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Tai nạn lao động do tự té thì được hưởng chế độ bảo hiểm gì ?

4. Bị tai nạn lao động thì được hưởng những chế độ gì ?

Kính chào luật sư! Luật sư cho em hỏi là tháng 8/2011 em ký hợp đồng lao động 3 tháng với một công ty xây dựng sau khi hết hợp đồng 3 tháng Công ty Không cắt hợp đồng vớii em mà cũng chưa ký thêm hợp đồng nào.

Nhưng vẫn để em làm việc tại công ty cho tới ngày 16/03/2012 trong lúc làm việc em chẵng may bị tai nạn đã được chữa trị nhưng vẫn đễ lại thương tật, khi em tới công ty hỏi chế độ tai nạn lao động công ty trả lời là lúc em bị tai nạn lao động em chưa được đóng bảo hiểm xã hội nên không làm chế độ cho em. Vậy nên em muốn hỏi luật sư là trong trường hợp này thì em có được hưởng quyền lợi hay chế độ gì không và phải làm như thế nào?

Em xin cảm ơn!

Người gửi: P.H

Bị tai nạn lao động thì được hưởng những chế độ gì ?

Luật sư tư vấn luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Điều 22 Bộ luật Lao động 2012 quy định về loại hợp đồng lao động

"1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

3. Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác."

Theo như bạn trình bày, bạn và công ty đã ký hợp đồng lao động 3 tháng từ tháng 8/2011. Về nguyên tắc, khi hợp đồng này hết hạn mà bạn vẫn tiếp tục làm việc cho công ty thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới. Nhưng trường hợp này, trong khi bạn vẫn tiếp tục làm việc mà công ty lại không ký hợp đồng lao động mới. Do đó, hợp đồng lao động có thời hạn 3 tháng giữa bạn và công ty sẽ trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Như vậy, có thể thấy, bạn bị tai nạn lao động trong khi hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn 24 tháng giữa bạn và công ty vẫn còn hiệu lực. Do đó, công ty phải chịu trách nhiệm đối với tai nạn lao động của bạn.

Bộ luật Lao động 2012 quy định:

Điều 142. Tai nạn lao động

1. Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

Quy định này được áp dụng đối với cả người học nghề, tập nghề và thử việc.

2. Người bị tai nạn lao động phải được cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo.

3. Tất cả các vụ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các sự cố nghiêm trọng tại nơi làm việc đều phải được khai báo, điều tra, lập biên bản, thống kê và báo cáo định kỳ theo quy định của Chính phủ.

Điều 144. Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

2. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

3. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này.

Theo quy định trên thì tai nạn của bạn được coi là tai nạn lao động và người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đối với tai nạn lao động của bạn. Khi đó bạn sẽ được hưởng các quyền sau:

- Được người sử dụng lao động thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế

- Được người sử dụng lao động trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động trong thời gian điều trị;

- Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

- Trường hợp người lao động bị tai nạn lao động không do lỗi của người lao động: được bồi thường ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%; ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động. Trường hợp người lao động bị tai nạn lao động do lỗi của người lao động thì cũng sẽ được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức trên.

Như vậy, trong trường hợp này, bạn có thể gặp trực tiếp người sử dụng lao động để yêu cầu quyền lợi. Nếu người sử dụng lao động vẫn kiên quyết không chịu trách nhiệm đối với tai nạn lao động của bạn thì bạn có thể yêu cầu hòa giải viên lao động giải quyết tranh chấp lao động giữa bạn và công ty.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Người lao động chết có được bồi thường khi làm tại công ty mà không có hợp đồng lao động không?

5. Tư vấn về việc hưởng chế độ tai nạn lao động ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi mong được luật sư giải đáp: Tháng 08/2011 tôi ký hợp đồng lao động 3 tháng với một công ty xây dựng, sau khi hết hợp đồng lao động 3 tháng, công ty không cắt hợp đồng với tôi mà cũng không ký thêm hợp đồng nào.

Tôi vẫn tiếp tục làm việc cho tới ngày 16/03/2012, trong lúc làm việc chẳng may bị tai nạn, đã chữa trị nhưng vẫn để lại thương tật. Khi tôi hỏi công ty về chế độ tai nạn lao động, công ty trả lời là lúc tôi bị tai nạn lao động tôi chưa được đóng bảo hiểm xã hội nên không làm chế nên tôi không được hưởng chế độ tai nạn lao động. Trong trường hợp này thì em có được hưởng quyền lợi hay chế độ gì không và phải làm như thế nào?

Người gửi: Thành

Tư vấn về việc hưởng chế độ tai nạn lao động ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia định gọi: 1900.6162

Trả lời:

Xin chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty luật Minh Khuê chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

Thứ nhất, chế độ tai nạn lao động

Theo Điều 22, Bộ luật lao động 2012 : Loại hợp đồng lao động

“1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

..."

Áp dụng quy định trên vào trường hợp của bạn, tháng 08/2011 bạn ký hợp đồng lao động 03 tháng với một công ty xây dựng, sau khi hết hợp đồng lao động 03 tháng, công ty không chấm dứt hợp đồng với bạn mà cũng không ký thêm hợp đồng. Vì công ty không giao kết hợp đồng mới nhưng vẫn để cho bạn tiếp tục làm việc thì hợp đồng 03 tháng đã giao kết của bạn trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn là 24 tháng. Vì vậy, hợp đồng lao động 03 tháng bạn đã kí vào tháng 08/2011 đã trở thành hợp đồng xác định thời hạn là 24 tháng, và đến 08/2013 mới hết hạn hợp đồng lao động. Khi bạn bị tai nạn vào ngày 16/03/2012, vẫn trong thời gian thực hiện hợp đồng. Hợp đồng với công ty vẫn chưa hết hạn nên việc công ty không đóng bảo hiểm xã hội cho bạn là trái với quy định pháp luật theo điểm a, Khoản 1, Điều 18, Luật Bảo hiểm xã hội 2006: Trách nhiệm của người sử dụng lao động: "Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 92 và hằng tháng trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội;”

Theo khoản 2,3,4 Điều 26, Nghị định số 95/2013/NĐ-CP của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội,đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: Vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp:

"2. Phạt tiền với mức từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp;

b) Đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp không đúng mức quy định;

c) Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

3. Phạt tiền với mức từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều này;

b) Buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm xã hội trong năm đối với vi phạm quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này."

Theo Điều 39, Luật Bảo hiểm xã hội 2006 : Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động

"Người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;

b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;

c) Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này."

Theo Điều 144, Bộ luật lao động 2012: Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

“1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

2. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

3. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này.”

Theo khoản 2,3,4 Điều 145, Bộ luật lao động 2012: Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

“2. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.

3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này.”

Tóm lại, công ty sẽ phải thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả nếu bạn tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định nếu bạn không tham gia bảo hiểm y tế; trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho bạn khi phải nghỉ việc trong thời gian điều trị; công ty phải trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp về chế độ tai nạn lao động.

Theo Điều 200, Bộ luật Lao động 2012: Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân:

"1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân."

Theo Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

"1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết."

Như vậy, trong trường hợp của bạn, bạn phải có yêu cầu hoà giải viên lao động tiến hành hoà giải , trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận được yêu câu hoà giải, hoà giải viên phải kết thúc việc hoà giải. Trường hợp hai bên thỏa thuận được hoặc chấp nhận phương án hoà giải mà hoà giải viên đưa ra thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Còn trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Cuối cùng, trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Trên đây là những giải đáp từ Công ty Luật Minh Khuê cho thắc mắc của bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi!

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân Trọng./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Sau khi bị tai nạn lao động có được quay trở lại làm việc?

6. Có phạm tội tống tiền và có phải là tai nạn lao động không ?

Kính chào luật sư, mong luật sư tư vấn giúp tôi vấn đề sau: Trong khi em đang lái máy xúc khi lùi do khuất tầm nhìn nên có gây ra tai nạn làm 1 anh công nhân đang ngồi bị gẫy xương chậu và em cùng công ty đã đưa anh ra viện điều trị. Nhưng sau 5 ngày gia đình người bị nạn đã xin đưa anh ấy về để chữa chị bằng thuốc nam và em đã thanh toán tiền viện phí và đã bồi dưỡng 5 triệu đồng tiền mặt và anh đã ký nhận.
Gia đình bên bị hại cũng ký bản cam kết là chịu mọi việc về sức khoẻ và tinh thần người bị nạn và cam kết không truy cứu gì với em nữa. Nhưng chỉ 3 ngày sau khi hai gia đình không thoả thuận được về tiền bồi dưỡng sức khoẻ cho người bị hại và cả hai gia đình cùng thống nhất là nhờ bên cơ quan pháp luật vào làm việc. Sau 2 ngày gia đình người bị hại lại đòi tiền gia đình em với khoản tiền là 100 triệu đồng nhưng gia đình em không đồng ý và gia đình người bị hại bảo không có thì cho ra pháp luật. 3 ngày sau gia đình người bị hại liên tục điện đòi với số tiền là 60 triệu đồng, không thì cho ra pháp luật. Vậy xin hỏi luật sư đấy có phải là tội tống tiền không? Khi mà khu vực em làm việc phục vụ nhà máy sản xuất có quy định là: khi công nhân nghỉ giải lao hoặc người nào không phận sự không tự ý vào khu vực máy đang làm phục vụ sản xuất.
Vậy thưa luật sư đây có phải là tai nạn lao động không?
Mong luật sư giải đáp giúp, em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, về tội tống tiền, Theo quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội cưỡng đoạt tài sản (tội tống tiền) như sau:

Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

Đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Để cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 135 thì hành vi khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản được thực hiện thông qua các hình thức sau đây:

- Hành vi “đe dọa sẽ dùng vũ lực”;

- “Có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác” là hành vi đe dọa sẽ gây thiệt hại về tài sản, danh dự, uy tín bằng bất cứ thủ đoạn nào nếu người bị uy hiếp không thỏa mãn yêu cầu về tài sản của người phạm tội. Hành vi này có khả năng khống chế ý chí của người bị đe dọa, mà chưa đến mức làm cho người bị đe dọa bị tê liệt ý chí. Hành vi uy hiếp tinh thần này có thể được thực hiện dưới một trong các dạng:

+ Đe họa hủy hoại tài sản của người bị đe dọa;

+ Đe dọa tố giác hành vi phạm pháp hoặc vi phạm đạo đức của người bị đe dọa;

+ Đe dọa công bố những tin tức thuộc đời tư mà người bị đe dọa muốn giữ kín… và mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi “đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác” là “nhằm chiếm đoạt tài sản”.

Như vậy, trong trường hợp này, khi xảy ra tai nạn bạn và gia đình người bị tai nạn đã thỏa thuận về khoản bồi dưỡng cũng như tiền viện phí và đã có chữ ký xác nhận của bên kia nên bạn có thể lấy đó làm bằng chứng. Còn việc sau đó gia đình người bị tai nạn liên tục đòi tiền bạn, nếu không sẽ cho ra pháp luật thì hành vi này có thể bị xử lý theo Điều 135 Bộ luật hình sự như trên. Do đó, bạn có quyền yêu cầu các cơ quan pháp luật có biện pháp ngăn chặn và xử lý vì hành vi người này thực hiện.

Thứ hai, về việc đây có phải là tai nạn lao động không thì theo quy định tại khoản 1 điều 12 nghị định 05/2015/NĐ-CP có quy định các trường hợp được xem là tai nạn lao động như sau:

"Điều 12. Tai nạn lao động và sự cố nghiêm trọng

1. Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động, kể cả trong thời gian nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, chuẩn bị và kết thúc công việc tại nơi làm việc".

Như vậy, theo quy định này thì đây là tai nạn lao động, người công nhân này sẽ được hưởng chế độ tai nạn lao động vì đang là giờ nghỉ giải lao.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh KHuê