Sau khi làm 20 ngày chị quản lý B thấy em đạt yêu cầu và có nhận xét tốt về em, có cử đi đào tạo, và nhận hợp đồng, hợp đồng thì chị C phòng nhân sự bảo giữ lại, gửi bưu điện sau khi em về chỗ làm. Tuy nhiên có xảy ra vấn đề rắc rối với khách hàng, em có trình bày là hiểu nhầm khách hàng, có giải thích với khách, chị quản lý B sau đó lại bảo em không hợp việc, tự cho em nghỉ việc luôn trong ngày, em có tố cáo lại việc chị B này không trung thực, gian dối trong công việc, lợi dụng quyền hành, không làm tròn trách nhiệm, tuy nhiên ngày hôm sau chị B lợi dung quyền hạn, ép buộc em viết đơn thôi việc và bắt em ký biên bản, vu khống em vào tội vô lễ với khách hàng (lợi dụng nhân viên khác trong công ty làm chứng việc em vô lễ với khách hàng, em và nhân viên làm chứng đó đều không biết luật cũng như lợi dụng nhân viên này chưa học hết cấp 2), chị B ký 20 ngày chấm công, nói sẽ chấm công trả tiền cho em và đề nghị em nghỉ việc ngay. Sau 3 tháng em gọi điện lại cho anh A để về hỏi tiền công, thì anh A không giải quyết., sau đó em có hỏi chị B thì chị ấy nói em hỏi chị C tuyển dụng. Khi em hỏi chị C, chị này có nói rằng do em vi phạm hợp đồng làm mất uy tín nên không trả lương cho em nữa. (hợp đồng thử việc hơn 2 tháng chị ấy hiện đang giữ). Cho em hỏi ai đúng ai sai? xử lý như thế nào? cơ quan nào giải quyết?

Em xin chân thành cảm ơn!

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao động của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật lao độnggọi1900 6162

 

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

Cơ sở pháp luật:

Bộ luật Lao động 2012

Thông tư 30/2013/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành Nghị định 43/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về Hợp đồng lao động.

Nghị định 04/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2005 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về khiếu nại, tố cáo về lao động

Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung 2011

Nội dung phân tích:

Trước hết đối với trường hợp của bạn, cần xác định rõ vấn đề ban đầu bạn ký kết hợp đồng lao động này với anh A, anh A này có thẩm quyền ký kết hợp đồng lao động của công ty bạn đang thử việc hay không? Việc xác định này để xem xét việc hợp đồng thử việc của bạn có hiệu lực pháp luật hay không?

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Thông tư 30/2013/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành Nghị định 44/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về Hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động có thẩm quyền ký kết hợp đồng lao động bao gồm:

- Người đại diện theo pháp luật quy định tại Điều lệ của doanh nghiệp hoặc người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp;

- Người đại diện theo pháp luật quy định tại Điều lệ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động theo Luật hợp tác xã;

- Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc người được người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức ủy quyền đối với cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có sử dụng lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động;

- Người đứng đầu tổ chức hoặc người được người đứng đầu tổ chức ủy quyền đối với cơ quan, tổ chức, chi nhánh, văn phòng đại điện của nước ngoài hoặc quốc tế đóng tại Việt Nam;

- Chủ hộ hoặc người đại diện hộ gia đình có thuê mướn, sử dụng lao động;

- Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động.

Trên cơ sở quy định trên nếu anh A không có thẩm quyền ký hợp đồng thử việc với bạn thì hợp đồng này được coi là vô hiệu.

Trong trường hợp anh A là người có thẩm quyền ký kết hợp đồng thử việc,  Điều 29 Bộ luật lao động 2012 quy định: 

"Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận".

Bên cạnh đó, theo Điều 16 Bộ luật Lao động về Hình thức hợp đồng lao động thì:

“1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.”

Đối với trường hợp của bạn, khi bạn kí hợp đồng thử việc với công ty, mà hợp đồng chỉ được lập thành một bản và do người sử dụng lao động giữ bản hợp đồng là sai pháp luật.

 Về vấn đề thời gian thử việc mà bạn có nêu là hai tháng, theo quy định tại Điều 27 Bộ luật lao động thời gian thử việc đươc ghi nhận như sau:

"Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác".

Như vậy trong trường hợp công việc của bạn là công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ, hoặc các công việc khác theo quy định tại Điều luật này thì thời gian thử việc tối đa đối với bạn được xác định không vượt quá 30 ngày, do bạn không nêu rõ về tính chất, mức độ phức tạp của công việc nên bạn có thể đối chiếu để xác định liệu việc giao kết hợp đồng với thời gian thử việc là hai tháng đối với công việc bạn đang làm có vi phạm pháp luật hay không.

Theo bạn trình bày, sau khi làm 20 ngày chị quản lý B thấy bạn đạt yêu cầu và có nhận xét tốt về bạn, có cử đi đào tạo, và nhận hợp đồng, hợp đồng thì chị C phòng nhân sự bảo giữ lại. Do bạn không trình bày cụ thể nên vấn đề cần làm rõ là việc chị B nhận hợp đồng này có nghĩa là chị B nhận giao kết hợp đồng lao động chính thức với bạn hay như thế nào?

Xem xét quy định tại khoản 1 Điều 29 Bộ luật lao động 2012 quy định: “Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.”. Như vậy trường hợp bạn làm thử công việc và đạt yêu cầu thì công ty bạn làm việc có trách nhiệm phải giao kết hợp đồng lao động chính thức. Trường hợp muốn hủy hợp đồng thử việc thì mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận

Vấn đề bạn xảy ra rắc rối với khách hàng khi bạn đang thực hiện công việc, cần xác định vấn đề này xảy ra khi bạn đang thực hiện theo hợp đồng thử việc hay sau khi công ty đã ký kết hợp đồng lao động chính thức với bạn. Trong trường hợp công ty cho bạn nghỉ việc trong thời gian thử việc lý do từ rắc rối xảy ra giữa bạn và khách hàng thì vấn đề này được quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật lao động về kết thúc thời gian thử việc :“Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận”..

Như vậy, trong thời gian bạn thử việc công ty có quyền hủy bỏ thỏa thuận về hợp đồng thử việc đối với bạn và không cần báo trước khi bạn không đạt yêu cầu. Tuy nhiên trong trường hợp bạn đạt yêu cầu về thử việc thì công ty không được hủy bỏ thỏa thuận thử việc, trường hợp này bạn có thể căn cứ vào hợp đồng thử việc cụ thể căn cứ các điều khoản về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động để bảo vệ quyền lợi của mình.

Việc chị B lợi dung quyền hạn, ép buộc bạn viết đơn thôi việc và bắt bạn ký biên bản, vu khống bạn vào tội vô lễ với khách hàng (lợi dụng nhân viên khác trong công ty làm chứng việc bạn vô lễ với khách hàng, bạn và nhân viên làm chứng đó đều không biết luật cũng như lợi dụng nhân viên này chưa học hết cấp 2) là vi phạm pháp luật cũng như vi phạm hợp đồng đã giao kết, chính vì vậy bạn có quyền gửi đơn khiếu nại, tố cáo tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định 04/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2005 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về khiếu nại, tố cáo về lao động để giải quyết với trường hợp bạn bị cho nghỉ việc trái pháp luật, theo đó thẩm quyền của người giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động được quy định tại Điều 8 và Điều 26.

  Việc trả lương trong thời gian thử việc công ty không giao trả cho bạn là trái pháp luật, theo quy định Luật Lao động hiện hành, công ty phải trả lương thử việc cho bạn theo quy định tại Điều 28 Luật Lao động như sau:

“Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó”.

Trong trường hợp tiền lương thử việc của bạn không được trả thì bạn có thể gửi đơn tới bên công ty hoặc công đoàn cơ sở tại công ty để yêu cầu giải quyết hoặc bạn có thể gửi đơn đến Tòa án để giải quyết.

Theo quy định Bộ luật Lao động, cụ thể Điều 200 về cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân:

“1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân”.

Như vậy khi có tranh chấp hợp đồng lao động, việc giải quyết sẽ được giải quyết tại hòa giải viên lao động hoặc Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004  sửa đổi, bổ sung 2011 để có thể giải quyết vấn đề này giúp bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật lao động.