Tuy nhiên em có chút thắc mắc là em vẫn có thẻ bảo hiểm y tế đến hết 2015 như vậy có nghĩa là công ty vẫn đóng bảo hiểm cho em đúng không ạ? Vậy em xin hỏi anh/chị luật sư, nếu công ty không đóng bảo hiểm cho thì em phải làm sao ạ, và nếu cần khiếu nại thì em cần giấy tờ gì ạ? Ngoài ra nếu công ty có đóng bảo hiểm thì em cần làm như thế nào để liên lạc với bên bảo hiểm xem tại sao em vẫn chưa được hưởng chế độ ( vì công ty em đã hỏi nhiều lần nhưng vẫn không trả lời em ). Em cảm ơn anh/chị đã lắng nghe và rất mong nhận được email trả lời của anh/chị sớm nhất có thể ạ.

Xin chân thành cảm ơn. 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của công ty Luật Minh Khuê!

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động, chúng tôi xin được trả lời như sau:

 

1. Căn cứ pháp lý

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

- Bộ luật lao động năm 2012

Luật Bảo hiểm y tế năm 2008

2. Nội dung phân tích

Theo quy định tại Điều 127 Bộ luật lao động 2012 về nghỉ thai sản như sau:

"1. Lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng.

2. Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Điều 39, luật bảo hiểm xã hội về mức hưởng chế độ thai sản thì:

"1. Người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 32, 33, 34, 35, 36 và 37 của Luật này thì mức hưởng chế độ thai sản được tính như sau:

a) Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 32, Điều 33, các khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 34, Điều 37 của Luật này là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội;

b) Mức hưởng một ngày đối với trường hợp quy định tại Điều 32 và khoản 2 Điều 34 của Luật này được tính bằng mức hưởng chế độ thai sản theo tháng chia cho 24 ngày;

c) Mức hưởng chế độ khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính theo mức trợ cấp tháng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp quy định tại Điều 33 và Điều 37 của Luật này thì mức hưởng một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 30 ngày.

2. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội".

Điều 21 Luật BHYT quy định về phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế trong đó có trường hợp người lao động sinh con.

Từ những căn cứ trên cho thấy, bạn sẽ được hưởng chế độ thai sản( cụ thể là nghỉ sinh con), theo đó, viện phí sinh con sẽ do BHYT chi trả, ngoài ra, bạn vẫn được hưởng tiền lương theo quy định của Luật BHXH.

Trong trường hợp của bạn, thẻ bảo hiểm Y tế vẫn còn hạn sử dụng đến hết năm 2015 và bạn sinh con vào tháng 10/2015 thì thẻ này vẫn còn hiệu lực, và quỹ bảo hiểm y tế phải chi trả cho bạn.

Về trường hợp bạn nghĩ công ty không đóng bảo hiểm hàng tháng cho mình: theo quy định của pháp luật và như bạn đã nêu, công ty sẽ phải thay bạn đóng tiền bảo hiểm xã hội trích từ tiền lương của bạn vì bạn thuộc đổi tượng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế. Nếu bạn nghi ngờ công ty không thực hiện đúng quy định trên, Theo đó, bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi đến người sử dụng lao động và tổ chức Công đoàn để người sử dụng lao động xem xét lại hành vi không nộp tiền bảo hiểm xã hội cho bạn.

Hoặc bạn có thể khiếu nại lên Phòng Lao động, thương binh và xã hội cấp quận/huyện nơi công ty đặt trụ sở. Trong trường hợp người sử dụng lao động không giải quyết cho bạn hoặc giải quyết mà bạn không thấy thỏa đáng, bạn cũng có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án cấp quận, huyện nơi công ty đóng trụ sở yêu cầu Tòa giải quyết theo như quy định tại Điều 121 Bộ luật lao động:

"1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;..."

Nếu công ty đã đóng bảo hiểm đúng quy định mà cơ quan bảo hiểm không thanh toán cho bạn thì bạn có thể làm đơn khiểu nại theo quy định tại Điều 47, 48  Luật BHYT sửa đổi bổ sung 2014 và Luật khiếu nại 2011, như sau:

Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về bảo hiểm y tế, việc tố cáo và giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Tranh  chấp xảy ra giữa chị với tổ chức bảo hiểm y tế sẽ được giải quyết theo 2 hướng sau đây:

- Các bên tranh chấp có trách nhiệm tự hòa giải về nội dung tranh chấp;

- Trường hợp hòa giải không thành thì các bên tranh chấp có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động.