Lúc đó cơ quan bắt tôi phải làm đơn xin trừ khoản tiền 6 triệu này vào tiền thai sản, tôi buộc phải làm theo nhưng họ vẫn không thanh toán tiền thai sản cho tôi. Tháng 5/2015 tôi nghỉ việc nhưng đến nay cơ quan vẫn không chi trả số tiền thai sản cho tôi. Ngoài ra, trong thời gian làm việc, cơ quan không thanh toán lương:

1/ Tiền lương tháng 6,7,8 năm 2009 2/ Tiền lương tháng 5/2015 (tôi nghỉ việc từ 1/6/2015 nhưng cơ quan không trả lương từ tháng 5/2015). 3/ Tiền lương làm ngoài giờ tháng 1/2010. 4/ Tiền lương thanh toán những ngày không nghỉ phép hàng năm (từ năm 2009 đến tháng 5/2015).

Luật sư cho tôi hỏi:

1/ Việc cơ quan đòi trừ tiền hợp đồng quảng cáo vào chế độ thai sản cho tôi có đúng quy định của pháp luật không?

2/ Tôi có quyền đòi tiền lương và buộc cơ quan phải trả đủ tiền lương những tháng kia và tiền lương những ngày không nghỉ phép, tiền lương làm thêm ngoài giờ không? Tôi rất mong nhận được sự tư vấn và hồi âm của các Luật sư công ty Luật Minh Khuê! Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật lao động  của công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật lao động gọi:  1900.1940

Trả lời:

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 số 58/2014/QH13

Bộ luật Lao động của Quốc hội, số 10/2012/QH13

2. Nội dung tư vấn

1, Việc cơ quan đòi trừ tiền hợp đồng quảng cáo vào chế độ thai sản cho tôi có đúng quy định của pháp luật không? 

Theo quy định tại khoản 5, Điều 12, Quyết định 636/QĐ-BHXH:

"5. Trong trường hợp người lao động nhận trợ cấp thông qua người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả đến người lao động trong thời hạn tối đa 03 ngày kể từ khi nhận được tiền và Danh sách theo mẫu C70b-HD do cơ quan BHXH chuyển đến."

Như vậy, theo quy định này, cơ quan bạn phải có trách nhiệm hoàn trả 100% tiền trợ cấp chế độ thai sản cho bạn trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc kể từ ngày công ty bạn nhận được tiền và Danh sách theo mẫu C70b-HD do cơ quan bảo hiểm xã hội chuyển đến.

Việc bạn nợ tiền quảng cáo của công ty thì bạn sẽ phải có trách nhiệm tự trả hoặc công ty trừ vào lương của bạn nhưng việc trừ vào lương này phải có sự thỏa thuận, đồng ý của bạn. Bởi lẽ, theo quy định của Bộ luật lao động luôn ưu tiên sự thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động, tuy nhiên thỏa thuận đó phải đúng với quy định pháp luật.

2. Tôi có quyền đòi tiền lương và buộc cơ quan phải trả đủ tiền lương những tháng kia và tiền lương những ngày không nghỉ phép, tiền lương làm thêm ngoài giờ không? 

Theo quy định tại Điều 47, Bộ luật lao động năm 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động: 

"1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán."

Theo đó, công ty bạn phải có trách nhiệm chi trả đầy đủ các khoản nợ lương trong thời gian bạn làm việc tại công ty mà công ty chưa thanh toán trong thời hạn 7 ngày làm việc từ ngày chấm dứt hợp đồng, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Ngoài ra, công ty bạn phải hoàn thành thủ tục và trả lại sổ bảo hiểm và những giấy tờ khác mà công ty đã giữ khi hai bên ký hợp đồng lao động. Chính vì vậy, bạn hoàn toàn có quyền đòi các khoản: Tiền lương tháng 6,7,8 năm 2009 2; Tiền lương tháng 5/2015; Tiền lương làm ngoài giờ tháng 1/2010; Tiền lương thanh toán những ngày không nghỉ phép hàng năm (từ năm 2009 đến tháng 5/2015).

Nếu công ty không chịu chi trả, bạn có thể làm đơn lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu họ xem xét và giải quyết. Theo quy định tại Điều 200 và Điều 201 Bộ luật Lao động năm 2012 thì bạn phải gửi đơn yêu cầu hòa giải lên Hòa giải viên lao động. Nếu hòa giải không thành mới có thể gửi hồ sơ lên yêu cầu cơ quan Tòa án xem xét, giải quyết, cụ thể:

"Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn pháp luật Lao động.