Trong thời gian tôi nghỉ chế độ thai sản 6 tháng, bộ phận kế toán đã làm thủ tục, hồ sơ lên Bảo hiểm xã hội Quận Hai Bà Trưng và cơ quan Bảo hiểm xã hội quận Hai Bà Trưng đã hoàn tất, thanh toán cũng như chuyển khoản về tài khoản của cơ quan để chi trả chế độ thai sản cho tôi (tổng số tiền chế độ thai sản cơ quan Bảo hiểm xã hội Quận Hai Bà Trưng thanh toán cho tôi theo hệ số lương 2.67 x 6 tháng mức lương cơ bản 1.150.000VNĐ + trợ cấp 2 tháng lương cơ bản 1.150.000VNĐ là: 20.723.000VNĐ). Đã rất nhiều lần tôi làm đơn đề nghị bộ phận kế toán và Lãnh đạo cơ quan chi trả chế độ thai sản cho tôi nhưng đều không được giải quyết. II/ Cơ quan có Quyết định ký ngày 27/5/2015 chấm dứt hợp đồng lao động với tôi kể từ ngày 1/6/2015. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa trao trả hồ sơ và sổ Bảo hiểm xã hội cho tôi. Tôi đã nhiều lần liên hệ với bộ phận Kế toán hỏi về sổ Bảo hiểm xã hội của tôi nhưng đều không nhận được câu trả lời. Do sự chậm trễ trả sổ bảo hiểm xã hội mà tôi không làm được hồ sơ, thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp theo đúng luật, việc này đã gây thiệt thòi cho bản thân tôi và ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi, công việc của tôi. Trong tờ Quyết định số 04/QĐ-BDL về việc chấm dứt hợp đồng lao động với tôi có ghi rõ tôi được hưởng chế độ thôi việc theo quy định của Luật Lao động, cứ mỗi năm làm việc được hưởng nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có) kể từ ngày 1/12/2008 đến ngày 31/5/2015. III/ Trong thời gian từ tháng 3/2009 đến tháng 8/2009 cơ quan tôi gặp sự cố và phải tạm dừng hoạt động. Trong thời gian đó, từ tháng 3 đến tháng 5 người lao động vẫn có lương bình thường, nhưng đến tháng 6, 7, 8/2009 thì kế toán nói là hết tiền và chưa trả lương. Đến tháng 9/2009 khi có lãnh đạo mới về tiếp quản, làm việc bình vàlại có lương bình thường. IV/: Theo hợp đồng lao động thời hạn 1 năm ký kết ngày 1/12/2008 với tôi, tôi được công tác, làm việc đúng với chức danh, chuyên môn của tôi. Khi ông N.Đ.B về giữ chức vụ lãnh đạo cơ quan vào tháng 9/2009, đến khi hợp đồng lao động hết hạn vào tháng 1/12/2009, ông B không ký thêm bất cứ hợp đồng lao động hay biên bản thỏa thuận làm việc nào tiếp với tôi. Từ đó đến ngày 31/5/2015, tôi bị ông B thuyên chuyển hết phòng này sang phòng khác, chuyển tôi sang phòng làm việc không đúng với chuyên môn và giao cho tôi bán sản phẩm của đơn vị mỗi tuần và bắt tôi phải trả tiền về cho cơ quan. Xin Quý Luật sư cho biết với những vấn đề tôi nêu trên, cơ quan cũ của tôi có vi phạm pháp luật không? - Việc giữ chế độ thai sản của tôi trong thời gian lâu như vậy thì tôi có được bồi thường (ngoài khoản tiền thai sản) không? - Cơ quan tôi không trả sổ bảo hiểm khiến tôi không được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Vậy tôi có được bồi thường không? - Tôi có được hưởng trợ cấp thôi việc như trong tờ Quyết định số 04/QĐ-BDL về việc chấm dứt hợp đồng lao động với tôi có ghi rõ tôi được hưởng chế độ thôi việc theo quy định của Luật Lao động, cứ mỗi năm làm việc được hưởng nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có) kể từ ngày 1/12/2008 đến ngày 31/5/2015. - 3 tháng lương 6,7,8/2009 tôi có được truy lĩnh và thanh toán không? - Việc cơ quan không ký tiếp hợp đồng lao động với tôi, thuyên chuyển tôi sang làm công việc không đúng chuyên môn của tôi và bắt tôi bán sản phẩm có vi phạm luật không? Cơ quan bắt tôi phải trả số tiền bán sản phẩm là đúng hay sai? Tôi rất mong nhận được sự tư vấn của Quý Luật sư!

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao động của công ty Luật Minh Khuê.

>>Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật lao độnggọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp luật:

Bộ luật lao động 2012

Luật bảo hiểm xã hội 2006

Luật Doanh nghiệp 2005

Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Nội dung phân tích:

Với các thông tin bạn cung cấp, công ty bạn đã có rất nhiều hành vi vi phạm pháp luật cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với vấn đề về công ty không chi trả chế độ thai sản cho bạn: Thời điểm bạn được hưởng chế độ thai sản mà công ty không chi trả chế độ này đối với bạn là vào thời điểm Luật bảo hiểm xã hội 2006 vẫn còn hiệu lực, do đó sẽ căn cứ vào Luật bảo hiểm xã hội 2006 để xác định. Căn cứ theo quy định tại Điều 117 Luật bảo hiểm xã hội năm 2006, việc giải quyết chế độ thai sản cho lao động nữ sinh con được thực hiện như sau:

“1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ có liên quan từ người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động.

2. Hằng quý, người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ của những người lao động đã được giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật BHXH.

3. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm quyết toán trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không quyết toán thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.”

Theo Khoản 2 Điều 28 Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định về vi phạm các quy định khác về bảo hiểm xã hội như sau:

 "Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng khi vi phạm với mỗi người lao động đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Không trả chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ của người lao động".

Và căn cứ vào Khoản 1 Điều 201 Bộ luật lao động 2012 quy định tranh chấp lao động cá nhân là:

"Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động

 d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng". 

Như vậy, trong trường hợp này, việc công ty đã nhận đủ giấy tờ hợp lệ của bạn mà trong thời hạn 3 ngày không chịu trả tiền chế độ thai sản cho bạn là trái quy định pháp luật. 

Trường hợp của bạn không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải và theo thông tin bạn cung cấp là bạn đã từng làm đơn yêu cầu công ty thanh toán nhưng công ty đã lấy lý do khó khăn để chưa chi trả bảo hiểm và không có kế hoạch cụ thể nào cho việc chi trả này nên bạn có thể trực tiếp khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận/ huyện nơi công ty đóng trụ sở để được giải quyết. Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết là 1 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bạn cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm.

Bạn có hỏi: bạn có được bồi thường đối với tiền thai sản mà công ty giữ trong một thời gian lâu như vậy không? Về vấn đề này theo quy định tại khoản 5 Điều 28 Nghị định 95/2013/NĐ-CP như sau:

“5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc trả đủ chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều này;

b) Buộc nộp lại lợi nhuận thu được từ việc sử dụng Quỹ bảo hiểm xã hội sai mục đích đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều này”.

Như vậy pháp luật không đặt ra vấn đề bồi thường đối với người sử dụng lao động khi không trả chế độ thai sản đúng thời hạn cho người lao động.

Thứ hai, về vấn đề công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bạn nhưng chưa trả hồ sơ và sổ bảo hiểm xã hội, do đó bạn không thể làm hồ sơ, thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bạn, bạn có được bồi thường không?

 Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 về Trách nhiệm của người sử dụng lao động cũng đề cập: “Trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người đó không còn làm việc”.

Căn cứ theo khoản 2,3 Điều 47 Bộ luật lao động 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động có quy định:

“2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”

Kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động là ngày 01/06/2015, trong thời hạn 7 ngày làm việc, giữa công ty và người lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên và công ty có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại hồ sơ cũng như sổ BHXH cho bạn.

Trong trường hợp của bạn, việc công ty không trả lại hồ sơ và sổ bảo hiểm xã hội đã vi phạm quy định của pháp luật về trả sổ BHXH cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Sổ bảo hiểm xã hội là căn cứ để xác định các mức hưởng, thời gian hưởng, điều kiện hưởng cho chế độ bảo hiểm xã hội mà người lao động được hưởng. Nên việc chậm trả sổ BHXH sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động. 

Luật việc làm 2013 có quy định về thời gian nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp: “Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập”. Chính vì sự chậm trễ trong việc trả sổ BHXH nên bạn không làm được thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp, việc này đã gây thiệt thòi cho bản thân bạn và ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi, công việc của bạn, do đó bạn có quyền yêu cầu công ty bồi thường thiệt hại đối với bạn.

Theo đó, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, bạn có thể khiếu nại lên Công đoàn cơ sở hoặc Thanh tra Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp quận/ huyện nơi công ty đặt trụ sở để đòi lại quyền lợi của mình theo quy định về nhiệm vụ của thanh tra nhà nước về lao động theo Điều 237 Khoản 4 Bộ luật lao động 2012: “Giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy định của pháp luật”.

Nếu phương án trên không được giải quyết, bạn có thể khởi kiện hành vi chậm trả sổ BHXH đến Tòa án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 về Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án bao gồm tranh chấp “Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động“. Mà cụ thể bạn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi công ty đặt trụ sở.

Thứ ba, về vấn đề hưởng trợ cấp thôi việc:

 Căn cứ theo Điều 48 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về trợ cấp thôi việc:

“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

Theo đó, Điều 36 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động:

“1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã”.

Do trong trường hợp này bạn không cung cấp rõ lý do công ty chấm dứt hợp đồng với bạn, về mặt thời gian làm việc thì bạn đã thỏa mãn điều kiện về thời gian làm việc để được hưởng trợ cấp thôi việc, do đó căn cứ quy định nêu ở trên nếu bạn đáp ứng điều kiện để được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 Luật Lao động thì bạn có quyền được hưởng trợ cấp thôi việc.

Thứ tư, về vấn đề hưởng lương trong thời gian 3 tháng lương 6,7,8/2009 khi công ty bạn tạm ngừng hoạt động bạn có được truy lĩnh và thanh toán không? 

Tại thời điểm này Luật Doanh nghiệp 2005 vẫn còn hiệu lực nên căn cứ quy định tại khoản 3 điều 156 Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định: "Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh doanh nghiệp vẫn có trách nhiệm thanh toán các nghĩa vụ về thuê cho nhà nước, tiếp tục thanh toán các khoản nợ với khách hàng, đối tác, hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng lao động với người lao động trừ khi hai bên có thỏa thuận nào khác"

Như vậy, đối với người lao động thì trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, công ty bạn phải đạt được sự thỏa thuận với người lao động về quyền lợi, việc làm như trả lương chờ việc, tạm ngừng thực hiện hợp đồng vì công ty tạm ngừng kinh doanh,... Khi hết thời gian tạm ngừng kinh doanh thì công ty phải tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với ngươi lao động. Như vậy, nếu trường hợp trong thời gian tạm ngừng hoạt động công ty không thỏa thuận với người lao động về việc thanh toán tiền lương cho người lao động thì công ty vẫn phải có nghĩa vụ trả lương cho người lao động theo đúng hợp đồng đã được ký kết và theo đó 3 tháng lương 6,7,8/2009 bạn được truy lĩnh và yêu cầu công ty thanh toán.

Thứ năm, đối với vấn đề bạn hỏi: Việc cơ quan không ký tiếp hợp đồng lao động với bạn, thuyên chuyển tôi sang làm công việc không đúng chuyên môn của bạn và bắt bạn bán sản phẩm có vi phạm luật không?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Bộ luật lao động 2012 quy định như sau:

“Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng”.

Như vậy, sau khi hợp đồng lao động có thời hạn một năm (từ 1/12/2008 đến 1/12/2009) hết hạn, ông N.Đ.B đã không ký kết tiếp hợp đồng với bạn, và bạn vẫn tiếp tục làm việc tại công ty theo đó căn cứ quy định nêu trên, hợp đồng lao động đối với bạn được xác định chuyển thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Việc ông B không ký kết tiếp hợp đồng với bạn không được xác định là hành vi vi phạm pháp luật.

Về vấn đề  ông N.Đ.B chuyển bạn sang phòng làm việc không đúng với chuyên môn và giao cho bạn bán sản phẩm của đơn vị mỗi tuần và bắt tôi phải trả tiền về cho cơ quan :

Căn cứ các quy định tại Bộ luật Lao động 2012:  Điều 30. Thực hiện công việc theo hợp đồng lao động

"Công việc theo hợp đồng lao động phải do người lao động đã giao kết hợp đồng thực hiện. Địa điểm làm việc được thực hiện theo hợp đồng lao động hoặc theo thỏa thuận khác giữa hai bên".

Điều 31. Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động

"1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của người lao động.

2. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của người lao động.

3. Người lao động làm công việc theo quy định tại khoản 1 Điều này được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định".

Như vậy, các công việc cũng như địa điểm làm việc của bạn được thực hiện theo đúng thỏa thuận xác nhận trong hợp đồng lao động, ông N.Đ.B chỉ được tạm thời chuyển bạn làm các công việc khác so với hợp đồng theo các trường hợp tại khoản 1 Điều 31 Bộ luật lao động, việc chuyển này chỉ mang tính chất tạm thời, và người sử dụng lao động phải báo trước cho bạn biết về việc này trước ít nhất 3 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm, đồng thời trong thời gian này bạn được trả lương theo công việc mới, nếu công việc mới có mức lương thấp hơn công việc cũ thì được giữ nguyên mức lương khi làm công việc cũ, và không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính Phủ quy định. Vậy, nếu ông B thuyên chuyển bạn sang phòng khác làm việc không đúng với công việc thuộc chuyên môn của bạn, mà không phải do các lý do quy định tại khoản 1 Điều 31 Bộ Luật Lao động, đồng thời không thông báo trước đối với bạn, thuyên chuyển trong khoảng thời gian lâu dài, không xác định rõ sẽ là hành vi vi phạm pháp luật. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư  lao động.