Tổng thời gian này công ty buộc em cam kết hợp đồng lao động là 8 năm. Từ khi em ký hợp đồng lao động không thời hạn với công ty đến nay là một năm.

1. Vậy nay em muốn xin nghỉ do điều kiện gia đình không cho phép đi làm xa thì làm thế nào em có thể chấm dứt hợp đồng lao động mà không bồi thường hợp đồng ạ ? 

2. Do số tiền tạm tính cho 8 năm là khoản 500tr. Số tiền tính cho một tháng đi TQ là (3 năm) 250tr còn lại (5 năm) 250triệu. Nhưng khi chuẩn bị đi TQ thì em bận giải quyết việc nghĩa vụ quân sự địa phương nên giấy cam kết làm việc 3 năm khi đi học một tháng ở TQ đã có người ký thay em như vậy nếu ra tòa khoản này em có phải bồi thường không ạ ?

Kính mong luật sư tư vấn giúp em cách để tránh bồi thường ạ vì hoàn cảnh gia đình khó khăn ạ.

Em xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: N.T.P

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi:   1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi. Thắc mắc của bạn sẽ được giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13

Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11

Bộ luật dân sự năm 2015 

2. Nội dung tư vấn:

1.Bạn hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ, tuy nhiên vì hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng lao động không xác định thời hạn nên bạn phải tuân thủ theo khaonr 3 Điều 37 BLLĐ như sau:

“Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

Nếu bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định trên thì bạn chỉ cần báo trước cho công ty  ít nhất 45 ngày và nếu như vậy thì bạn không phải bồi thường chi phí đào tạo theo  quy định tại Điều 43 Bộ luật lao động:

“Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”

Như vậy, trách nhiệm bồi thường chỉ đặt ra khi bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật  nghĩa là không tuân thủ thời gian báo trước.

“Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động...

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.…”

2. Về bản chất, giấy cam kết làm việc 3 năm tại công ty là hợp đồng đào tạo nghề theo quy định tại Điều 62 Bộ luật lao động:

“Điều 62. Hợp đồng đào tạo nghề giữa người sử dụng lao động, người lao động và chi phí đào tạo nghề

1. Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.

Hợp đồng đào tạo nghề phải làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản.

2. Hợp đồng đào tạo nghề phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Nghề đào tạo;

b) Địa điểm đào tạo, thời hạn đào tạo;

c) Chi phí đào tạo;

d) Thời hạn người lao động cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động sau khi được đào tạo;

đ) Trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo;

e) Trách nhiệm của người sử dụng lao động.

3. Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài.”

Quy định này không bắt buộc các bên phải trực tiếp ký kết hợp đồng. Do đó, nếu bạn có hợp đồng ủy quyền với người ký thay để thực hiện công việc là ký thay hợp đồng theo quy định tại Điều 581 Bộ luật dân sự người ký thay bạn được nhân danh bạn để ký hợp đồng.

“Điều 581. Hợp đồng uỷ quyền

Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Nếu người ký thay bạn không được bạn ủy quyền thì hậu quả của giao dịch dân sự này được quy định tại Điều 145 Bộ luật dân sự như sau:

“Điều 145. Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện

1. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó để trả lời trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này mà không trả lời thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, nhưng người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện.

2. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch.”

Như vậy, nếu bạn đồng ý về cam kết được người ký thay bạn ký thì giấy cam kết trên sẽ phát sinh hiệu lực nếu không vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự như sau:

“Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”

Nếu giấy cam kết có hiệu lực theo các trường hợp được phân tích ở trên thì khi ra tòa, tòa sẽ căn cứ vào  tài liệu này để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bạn. Tuy nhiên cũng xem xét như trường hợp trên khi bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật thì không đặt ra vấn đề hoàn trả lại chi phí đào tạo.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê