Khi thực hiện thủ tục này thì hai bên có quyền và nghĩa vụ như thế nào? Trường hợp sau khi chấm dứt nếu muốn đóng tiếp thì phải thực hiện thủ tục gì ạ?

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: nguyen trang

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Hợp đồng bảo hiểm Prudential là một trong những loại hợp đồng dân sự, chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Hợp đồng bảo hiểm được chấm dứt theo các trường hợp được quy định tại Điều 424 của Bộ luật dân sự 2005 và Điều 23 của Luật Kinh doanh bảo hiểmbao gồm:

+ Hợp đồng được hoàn thành

Các hợp đồng dân sự nói chung được coi là hoàn thành khi các bên tham gia hợp đồng đã thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ và do vậy, mỗi bên đều đã đáp ứng được quyền dân sự của mình, thì hợp đồng được coi là hoàn thành. Tuy nhiên, trong hợp đồng bảo hiểm, sau khi đã nhận phí bảo hiểm, bên bảo hiểm phải chịu rủi ro cho đến khi hết hạn của hợp đồng nên việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo căn cứ này được xác định như sau: Đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản có mức bảo hiểm là 100% giá trị của tài sản bảo hiểm thì dù sự kiện bảo hiểm đã xảy ra và bên bảo hiểm đã bồi thường thiệt hại nhưng số tiền bồi thường chưa bằng 80% giá trị của tài sản được bảo hiểm thì vẫn phải bảo hiểm cho đến khi hết hạn hợp đồng, nếu số tiền bồi thường đã bằng 80% trở lên so với giá trị của tài sản được bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm đó được coi là chấm dứt kể từ khi bên bảo hiểm đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường cho người được bảo hiểm. Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì hợp đồng được coi là chấm dứt khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và bên bảo hiểm đã trả tiền bảo hiểm.

+ Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng.

Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là ý chí của một trong hai bên về việc không tiếp tục duy trì hợp đồng theo các điều kiện đã cam kết vì bên kia có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Khi một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì hợp đồng bảo hiểm đó được coi là chấm dứt tại thời điểm bên kia nhận được thông báo đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của bên này. Theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thì các bên trong hợp đồng bảo hiểm được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong nhưng trường hợp sau đây:

Bên bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong các hành vi:

* Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc để được bồi thường;

* Không thông báo cho bên bảo hiểm những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của bên bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm dù bên bảo hiểm đã yêu cầu;

* Không chấp nhận việc tăng phí bảo hiểm khi bên bảo hiểm tính lại phí bảo hiểm trên do có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm. Chẳng hạn, bên mua bảo hiểm bảo hiểm cho chiếc xe ô tô của mình với mức phí là 1,3% cho 100% giá trị của xe trong thời hạn là năm năm và đóng phí định kỳ theo từng năm bảo hiểm. Do bị tai nạn nên chất lượng xe đã giảm đáng kể dù đã được sửa chữa. Vì vậy, đến năm bảo hiểm thứ ba, bên bảo hiểm tăng phí bảo hiểm từ 1,3% lên 1,7% nhưng bên mua bảo hiểm không chấp nhận mức phí đó và không đóng phí bảo hiểm. Trong trường hợp này hợp đồng bảo hiểm vật chất đối với xe cơ giới được coi là chấm dứt kể từ thời điểm bên mua bảo hiểm nhận được thông báo bằng văn bản của bên bảo hiểm về việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm.

* Bên tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không tiếp tục đóng phí bảo hiểm sau 60 ngày kể từ ngày gia hạn đóng phí thì hợp đồng bảo hiểm này đương nhiên bị coi là chấm dứt kể từ thời điểm hết thời hạn của gia hạn đóng phí. (Trong trường hợp thời gian đã đóng phí bảo hiểm chưa đủ hai năm).

* Người được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp an toàn cho đối tượng bảo hiểm và bên bảo hiểm đã ấn định một thời hạn để người được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó nhưng hết thời hạn mà các biện pháp đó vẫn không được thực hiện thì hợp đồng bảo hiểm bị chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm bên tham gia bảo hiểm đã nhận được thông báo bằng văn bản của bên bảo hiểm về việc chấm dứt hợp đồng.

- Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi hợp đồng bị huỷ bỏ.

+ Bên tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đã đóng phí bảo hiểm được từ hai năm trở lên và không tiếp tục đóng phí bảo hiểm sau 60 ngày kể từ ngày gia hạn đóng phí thì hợp đồng bảo hiểm này chấm dứt kể từ khi bên bảo hiểm thực hiện việc chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, bên bảo hiểm phải trả cho bên mua giá trị hoàn lại của hợp đồng (giá trị giải ước). Ta nói rằng trường hợp này chính là huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm.

+ Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi đối tượng được bảo hiểm không còn.

Đối tượng được bảo hiểm bao gồm con người, tài sản và trách nhiệm dân sự, trong đó một hợp đồng bảo hiểm chỉ rơi vào trường hợp “đối tượng được bảo hiểm không còn” khi hợp đồng đó có đối tượng bảo hiểm là con người hoặc tài sản. Vì vậy, hợp đồng bảo hiểm chỉ chấm dứt theo căn cứ trên trong các trường hợp:

+ Khi tài sản được bảo hiểm bị mất hoặc bị huỷ hoại toàn bộ. Tài sản bị mất hoặc bị huỷ hoại có thể chính là sự kiện bảo hiểm, có thể không thuộc sự kiện bảo hiểm trong một hợp đồng. Chẳng hạn, trong các hợp đồng bảo hiểm trộm cắp, nếu tài sản bị mất do trộm cắp là sự kiện bảo hiểm, nhưng nếu tài sản bị huỷ hoại thì không thuộc sự kiện bảo hiểm. Tuy nhiên, theo nguyên tắc chung thì hợp đồng được coi là chấm dứt tại thời điểm tài sản được bảo hiểm không còn. Trong đó, nếu sự “không còn” của tài sản thuộc sự kiện bảo hiểm thì bên bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường;

+ Khi người được bảo hiểm bị chết thì hợp đồng đó được coi là chấm dứt tại thời điểm người đó chết và đương nhiên nếu sự kiện chết của người đó thuộc sự kiện bảo hiểm thì bên bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho người được thụ hưởng;

+ Bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm.

Trong các hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là con người mà người được bảo hiểm không đồng thời là người tham gia bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm chỉ được mua bảo hiểm cho những người mà mình có quyền lợi có thể được bảo hiểm do giữa người đó với người được bảo hiểm có các quan hệ về hôn nhân, gia đình, huyết thống .v.v. Vì vậy, khi các quan hệ đó chấm dứt thì người tham gia bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm. Chẳng hạn, vợ mua bảo hiểm cho chồng với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thời hạn là 15 năm nhưng sáu năm sau kể từ khi giao kết hợp đồng bảo hiểm đó, hai vợ chồng đã ly hôn. Trong trường hợp này, hợp đồng bảo hiểm được coi là chấm dứt kể từ thời điểm quyết định hoặc bản án cho ly hôn của Toà án có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, hợp đồng ký kết giữa bạn và Công ty TNHH BHNT Việt Nam có thể chấm dứt trong những trường hợp đã nêu trên. Nếu bạn muốn chấm dứt hợp đồng một cách hợp pháp thì trước hết bạn phải xem xét hợp đồng đó có điều khoản quy định về việc chấm dứt hợp đồng, quyền, nghĩa vụ của các bên khi chấm dứt hợp đồng và việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm không, nếu có thì bạn phải thực hiện theo đúng hợp đồng.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê