Vì thiếu hiểu biết về pháp luật nên tôi tôi đã nhận lời và làm theo sự hướng dẫn của anh mà không có hợp đồng lao động mà chỉ có thống nhất bằng miệng làm như thế nào, khi nào làm xong có bản nghiệm thu đầy đủ thì anh ấy sẽ thanh toán tiền hết. Bản nghiệm thu hoàn công đã xong cách đây hơn ba tháng rồi mà anh không chịu hoàn công cho tôi và những người khác. Điện thoại thì anh ấy cứ hẹn nay rồi mai. Vì là người gọi anh em vào làm nên giờ mọi người cử tôi ra đòi. Cứ tưởng sẽ có tiền liền nên tôi đã vay để trả cho họ một ít vì số tiền quá lớn đối với bản thân tôi nên tôi không thể trả hết được. Giờ lâm vào cảnh nợ chồng chất mà không biết phải làm sao. Nếu tôi muốn nộp đơn tố cáo thì phải nộp vô cơ quan nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: T.G

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng!

 

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật Lao động 2012

- Nghị định số 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Nội dung trả lời:

Điều 16 BLLĐ 2012 quy định về hình thức hợp đồng lao động:

"1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói."

Theo như bạn trình bày có thể hiểu công việc bạn làm đã có thời hạn trên 3 tháng; do đó hợp đồng lao động giữa bạn và công ty sẽ phải giao kết bằng văn bản theo đúng quy định tại Điều 16 BLLĐ 2012. Tuy nhiên, trên thực tế bạn và công ty chỉ giao kết hợp đồng bằng lời nói; điều đó đồng nghĩa với việc công ty Viettel đã có hành vi vi phạm quy định về giao kết hợp đồng và có sẽ bị xử phạt hành chính đối với hành vi này như sau:

Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định:

"1. Phạt tiền người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc cố định có thời hạn trên 3 tháng; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động;

b) Buộc người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc trả lại bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ đã giữ của người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều này;

b) Buộc trả lại số tiền hoặc tài sản đã giữ của người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền đã giữ của người lao động tính theo lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này."

Như vậy, khi công ty Viettel có hành vi không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc cố định có thời hạn trên 3 tháng; tùy vào từng trường hợp cụ thể công ty có thể bị xử phạt hành chính từ 500.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Bộ luật Lao động 2012 quy định:

Điều 95. Kỳ hạn trả lương

1. Người lao động hưởng lương giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thoả thuận, nhưng ít nhất 15 ngày phải được trả gộp một lần.

2. Người lao động hưởng lương tháng được trả lương tháng một lần hoặc nửa tháng một lần.

3. Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.

Điều 96. Nguyên tắc trả lương

Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.

Theo quy định trên thì bạn sẽ được hưởng lương theo sản phẩm; vì công việc phải làm trong nhiều tháng do đó hằng tháng bạn sẽ được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng đó. Và người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả lương đúng hạn hoặc được trả chậm nhưng không quá 01 tháng.

Theo như bạn trình bày thì bạn đã hoàn thành công việc xong cách đây hơn ba tháng rồi mà vẫn chưa được người sử dụng lao động trả tiền công. Do đó, hành vi này của người lao động sẽ bị xử lý hành chính theo quy định tại Khoản 3 Điều 13 Nghị định 95/2013/NĐ-CP như sau:

"3. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Lao động; trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện; trả lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm cho người lao động thấp hơn mức quy định tại Điều 97 của Bộ luật Lao động; khấu trừ tiền lương của người lao động trái quy định tại Điều 101 của Bộ luật Lao động; trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định tại Điều 98 của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên."

Bạn có thể thông báo những hành vi này của người sử dụng lao động đến cơ quan có thẩm quyền như: UBND cấp xã, UBND cấp huyện, Thanh tra lao động. Hoặc có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT LAO ĐỘNG - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.