Sau đó tôi chuyển sang làm công ty B và công ty A chốt sổ BHXH như sau: Thời gian đóng BHXH bắt buộc đến 9/2013 là 14 năm 10 tháng. Tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng là 4 năm 1 tháng. Tôi làm việc tại công ty B và đóng BHXH đến hiện tại 07/2015 thì công ty chính thức cho tôi nghỉ việc. Vậy. tôi có được hưởng trợ cấp thôi việc nữa không. Mức trợ cấp của tôi là bao nhiêu, cách tính trợ cập như thế nào? xin hãy giúp tôi, mức lương cơ bản hiện tại của tôi là 6.825.000 đồng. Tôi chỉ còn 1/2 tháng nữa là rời khỏi công ty rồi. Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư!

Người gửi: E.M

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật Minh khuê

Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời: 

Chào chị, Đối với nội dung yêu cầu này, chúng tôi xin được trả lời như sau:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

- Bộ luật lao động số 10/2012/QH13;

- Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Bộ luật lao động 2012

- Luật việc làm số 38/2013/QH13.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Hiện nay theo quy định tại Điều 48 Bộ luật lao động năm 2012 có quy định về điều kiện để được hưởng trợ cấp thôi việc khi: “Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên”. Mà theo quy định tại Điều 36 BLLĐ có quy định như sau:

Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Trợ cấp thôi việc được tính cụ thể: “Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.”

Theo hướng dẫn tại Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn BLLĐ có quy định như sau:

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

Theo thông tin mà chị cung cấp cho chúng tôi thì tháng 9/2013 chị kết thúc HĐLĐ với công ty A và sau đó chị “làm việc cho công ty B và đóng BHXH đến hiện tại 07/2015 thì công ty chính thức cho chị nghỉ việc”. Nhưng chị không nêu rõ là thời gian làm việc cho Công ty B trước năm 2015 (vì từ 01/01/2015 doanh nghiệp bắt buộc phải đóng BHTN cho NLĐ khi ký hợp đồng từ đủ 03 tháng trở lên), chị có được đóng bảo hiểm thất nghiệp hay không? Và nguyên nhân chị nghỉ tại công ty có thuộc một trong những trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 ở trên hay không? Chúng tôi xin tư vấn cho bạn theo 2 hướng như sau:

Trường hợp 1: Chị nghỉ việc thuộc trường hợp Điều 36 BLLĐ nêu trên và thời gian này chị chưa được đóng bảo hiểm thất nghiệp thì chị sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc, mỗi năm làm việc được trợ cấp nửa tháng tiền lương.

Giả sử chị làm việc cho Công ty B từ tháng 10/2013 đến tháng 12/2014 thì có thời gian 1 năm 3 tháng không đóng BHTN. Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP thì “Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

Và bình quân 6 tháng lương trước khi chị nghỉ việc là 6.825.000 đồng. Khi đó, trợ cấp thôi việc được xác định như sau:

Trợ cấp thôi việc =  1,5 năm   x   3.412.500 đồng  =  5.118.750 đồng (bằng chữ: năm triệu một trăm mười tám ngàn bảy trăm năm mươi đồng).

Trường hợp 2: Thời gian chị làm việc cho Công ty B đã được đóng BHTN thì chị sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc nữa, thay vào đó chị sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu đáp ứng đủ các điều kiện tại khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm 2013. Người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

Quyền lợi được hưởng:

Thời gian tính hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ được công dồn cả thời gian chị làm việc tại Công ty A (4 năm 1 tháng). Mức hưởng, thời gian hưởng, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Điều 50 Luật Việc làm 2013 như sau:

Điều 50. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.”

Giả sử chị làm việc cho Công ty B từ tháng 10/2013 đến hết tháng 7/2015 thì có thời gian đóng BHTN là 1 năm 10 tháng và cộng thời gian trước tại Công ty A thì tổng thời gian chị đóng BHTN là 5 năm 11 tháng, được làm tròn lên 6 năm. Với 6 năm này chị sẽ được hưởng 6 tháng trợ cấp thất nghiệp. Mức hưởng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp (tạm tính mức BQTL sáu tháng liền kề trước khi chị nghỉ việc là 6.825.000 đồng). Trợ cấp thất nghiệp cho mỗi tháng được xác định là 4.095.000 đồng/tháng (bằng chữ: bốn triệu không trăm chín mươi lăm ngàn đồng).

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của chị, cảm ơn chị đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ