Đúng hẹn ngày 14-5-2015 tôi tới trung tâm để được nhận giấy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp. Nhưng tôi không thể nhận được giấy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp. Với lý do tôi đã có việc làm bắt đầu từ ngày 2-5-2015.

Như vậy cho tôi hỏi:

1. Trường hợp của tôi có được truy thu hưởng trợ cấp thất nghiệp của tháng 3 và 4 không?

2. Từ lúc nhận giấy khai báo thất nghiệp 14-3-2015 cho đến ngày nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 1 tháng có đúng không?

3. Trong 2 tháng (tháng 3, và 4) tôi không nhận được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Vậy tôi phải kiện ai? (công ty tôi, nơi chốt sổ BH hay trung tâm Bảo hiểm?)

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: L.V.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê. 

Tư vấn khởi kiện đòi trợ cấp thất nghiệp ? 

Luật sư tư vấn luật lao động gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi. Thắc mắc của bạn được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Luật Việc làm số 38/2013/QH13

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13

Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Việc làm về Bảo hiểm thất nghiệp

Luật Tố tụng hành chính số 64/2010/QH12

Nội dung tư vấn:

Điều 45 Luật Việc làm có quy định về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

"Điều 45. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp

1. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng bảo hiểm thất nghiệp là tổng các khoảng thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp liên tục hoặc không liên tục được cộng dồn từ khi bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp cho đến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.

2. Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trước đó của người lao động không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho lần hưởng bảo hiểm thất nghiệp tiếp theo được tính lại từ đầu, trừ trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều 53 của Luật này.

3. Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về viên chức."

Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định tại khoản 3,4 Điều 53 Luật Việc làm như sau:

Điều 53. Tạm dừng, tiếp tục, chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

...

3. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau đây:

a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp;

b) Tìm được việc làm;

c) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

d) Hưởng lương hưu hằng tháng;

đ) Sau 02 lần từ chối nhận việc làm do trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp giới thiệu mà không có lý do chính đáng;

e) Không thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này trong 03 tháng liên tục;

g) Ra nước ngoài để định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

h) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

i) Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp;

k) Chết;

l) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

m) Bị tòa án tuyên bố mất tích;

n) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù.

4. Người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc các trường hợp quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều này được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện quy định tại Điều 49 của Luật này.

Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp."

Do bạn chưa được hưởng trợ cấp thất nghiệp mà đáng ra bạn được hưởng nên thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của bạn để xét hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ được cộng dồn để được hưởng cho lần tiếp theo. Khi đó, thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của bạn sẽ được dài hơn theo quy định tại Điều 50 Luật Việc làm như sau: 

"Điều 50. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này."

Như vậy, bạn sẽ không được truy đòi hưởng trợ cấp thất nghiệp của tháng 3 và 4 mà thời gian bạn đã đóng bảo hiểm thất nghiệp trước đó sẽ được cộng dồn với khoảng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tiếp theo.

2) Khoản 1 Điều 18 Nghị định 28/2015/NĐ-CP có quy định:

"Điều 18. Giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm xem xét, trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, trường hợp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp gửi theo đường bưu điện thì ngày nhận hồ sơ được tính là ngày chuyển đến ghi trên dấu bưu điện.

..."

Như vậy, từ lúc nộp hồ sơ hưởng đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp cho đến ngày nhận được quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp là 20 ngày là trái với quy định tại Điều 18 ở trên.

3) Theo quy định tại Điều 47 Luật Lao động:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán."

Bạn đã có quyết định thôi việc từ ngày 28/2 nhưng đến ngày 10/3, bạn mới nhận được sổ Bảo hiểm và hồ sơ quyết định thôi việc tức là đã trên 7 ngày. Như vây, theo quy định trên, nếu công ty bạn không rơi vào trường hợp đặc biệt để được kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì bạn có quyền khởi kiện đến tòa án. Điểm d khoản 1 Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự quy định như sau:

“Điều 31. Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, hòa giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hòa giải tại cơ sở:

...

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động;..."

Theo phân tích ở câu 2 thì hành vi của cơ quan bảo hiểm là vi phạm quy định của pháp luật. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Tố tụng hành chính thì bạn có quyền khởi kiện cơ quan bảo hiểm về hành vi trên

"Điều 28. Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức...."

Định nghĩa về hành vi hành chính được quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật này như sau:

"Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật."

Như vậy, bạn bạn cần xác định rõ ai là người xâm phạm đến quyền lợi của bạn, từ đó xác định được đối tượng mà bạn cần khởi kiện.

Trên đây là những giải đáp, tư vấn từ phía Công ty Luật Minh Khuê cho câu hỏi của Quý khách hàng. Nếu còn có điều gì thắc mắc, mời Quý khách hàng vui lòng gửi thư theo địa chỉ email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc gọi điện trực tiếp đến tổng đài 1900.6162 để được giải đáp nhanh chóng và chính xác nhất.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.