Ngoài việc được BHXH chi trả trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng dựa trên tỉ lệ suy giảm khả năng lao động và số năm đóng BHXH theo luật BHXH số 71  thì có được đơn vị sử dụng lao động trợ cấp tai nạn lao động theo thông tư 04/2015/BLĐTBXH nữa không?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn trợ cấp lao động theo Thông tư 04/2015/BLĐTBXH ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến gọi : 1900.6162

Trả lời:

Kính chào bạn ! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau: 

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động 2012.

Nội dung phân tích:

Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi. Chúng tôi tư vấn vấn đề của bạn như sau:

- Khi cá nhân là công chức bị tai nạn lao động được BHXH chi trả trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng dựa trên tỉ lệ suy giảm khả năng lao động và số năm đóng BHXH theo Luật BHXH số 71. Ngoài ra đơn vị sử dụng lao động trợ cấp tai nạn lao động không theo Thông tư 04/2015/BLĐTBXH mà dựa trên quy định tại Điều 144 và Điều 145 Bộ Luật LĐ 2012 quy định Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như sau:
1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế. 
2. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.
3. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này.
Điều 145. Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội. 
2. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội. 
Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.
3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:
a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;
b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.
4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này."

Như vậy, ngoài người lao động được BHXH chi trả trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng dựa trên tỉ lệ suy giảm khả năng lao động và số năm đóng BHXH theo Luật BHXH số 71 thì sẽ được người lao động chi trả , bồi thường dựa trên quy định tạI Bộ luật lao động 2012, dựa trên hợp đồng lao động ký kết giữa hai bên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG.