Xin Luật Sư tư vấn giúp.Cảm ơn Luật Sư!

Người hỏi: Dung Nguyen

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật lao độngcủa Công ty Luật Minh Khuê.

xây dựng

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi: 1900.1940

Trả lời:

Cơ sở pháp lý:

Bộ Luật lao động năm 2012

Nội dung trả lời:

1.Việc chi trả từ phía công ty bạn đang làm việc 

Điều 145. Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

2. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.

3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này.

Theo như quy định trên thì việc bạn bị tai nạn lao động do chính lỗi của bạn và bạn có tham gia đóng bảo hiểm, hơn nữa bạn được chuẩn đoán là bị thương tật 30% thương tật vĩnh viễn. Nên theo quy định tại khoản 4 Điều 145 BLLĐ 2012 thì bạn vẫn sẽ được hưởng một khoản trợ cấp bằng ít nhất 40% mức quy định tại khoản 3 Điều 145 BLLĐ 2012, cụ thể như sau:

3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

Như vậy, do bạn bị thương tật 30% nên mức bồi thường mà bạn nhận được sẽ là (1,5 tháng tiền lương theo HĐLĐ + (20 * 0,4 tháng tiền lương)) vì mức thương tật của bạn lớn hơn mức thương tật được hưởng 1,5 tháng tiền lương là từ 5-10% thương tật 

2.Việc chi trả từ bảo hiểm xã hội

 Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) 2006Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH quy định về điều kiện và mức hưởng chế độ tai nạn lao động như sau:

Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động:

Theo Điều 39 Luật BHXH, người lao động tham gia BHXH được hưởng chế độ tai nạn lao động khi suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau: Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc; Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động; Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.

Mức hưởng:

Mức trợ cấp = Mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động + Mức trợ cấp tính theo số năm đóng BHXH.

Theo Điều 21 Nghị định 152/2006/NĐ-CP quy định người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì được hưởng trợ cấp một lần. Công thức tính như sau:

Mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động: Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng 5 tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung.

Mức trợ cấp tính theo số năm đóng BHXH: từ 1 năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

Theo Điều 22 Nghị định 152/2006/NĐ-CP, người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì được hưởng trợ cấp hằng tháng. Công thức tính như sau:

Mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động: Suy giảm 31% khả năng lao động thì mức trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động là 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung.

Mức trợ cấp tính theo số năm đóng BHXH: từ 1 năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

Thời điểm hưởng trợ cấp được tính từ tháng người lao động điều trị xong, ra viện. Trường hợp thương tật tái phát, người lao động được đi giám định lại mức suy giảm khả năng lao động thì thời điểm hưởng trợ cấp mới được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa.

Nếu sau khi điều trị ổn định thương tật mà sức khỏe của người lao động còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe từ 5 đến 10 ngày, mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ tại cơ sở tập trung.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT