Theo luật lao động tôi được đọc thì sẽ được hỗ trợ 1/2 tháng lương cho mỗi năm công tác tại đơn vị. nhưng công ty nói lại là đã báo trước và có đóng BHTN cho trồi nên chỉ nhận đúng lương tháng đã làm mà ko được hưởng khoản trợ cấp thôi việc nào và tiền này do nhà nước trả.

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Nguyet Anh

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

 

Trả lời:
Chào bạn, vấn đề Bạn quan tâm Luật Minh Khuê trao đổi cụ thể như sau:

Hiện nay, Bộ luật lao động năm 2012 có qui định về trợ cấp thôi việc như sau:

“Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

Việc bạn và công ty chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp hết hạn hợp đồng lao động theo qui định tại khoản 1 điều 36 Bộ luật lao động.  Nếu bạn đã làm việc tại thường xuyên tại công ty từ 12 tháng trở lên, thì khi chấm dứt hợp đồng lao động, công ty có nghĩa vụ phải chi trả trợ cấp thôi việc cho bạn. Mức trợ cấp thôi việc được tính là ½ tháng tiền lương đối với mỗi năm làm việc.

Vậy nếu bạn đáp ứng được điều kiện trên, thì bạn nên yêu cầu công ty chi trả cho mình khoản trợ cấp thôi việc theo đúng qui định của pháp luật.
Nếu công ty không đồng ý chi trả cho bạn khoản trợ cấp thôi việc trên, thì theo điều 200 Bộ luật lao động, bạn có thể yêu cầu hòa giải viên hoặc khởi kiện ra tòa án để giải quyết tranh chấp.

Theo khoản 1 điều 201 BLLĐ, trong trường hợp này, bạn có thể yêu cầu tòa án giải quyết mà không cần phải thông qua thủ tục hòa giải. Bạn cần gửi đơn khởi kiện đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi có trụ sở của công ty để yêu cầu giải quyết.

Ý kiến bổ sung:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi vào chuyên mục của chúng tôi, câu hỏi của bạn được chúng tôi tư vấn như sau:

Điều 48 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về trợ cấp thôi việc:

“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

Điều 36 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động:

“1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã”.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp của bạn hết hạn hợp đồng lao động và hai bên không tiếp tục ký hợp đồng mới, nếu bạn đã làm việc thường xuyên tại công ty từ đủ 12 tháng trở lên thì bạn có thể được nhận trợ cấp thôi việc từ phía công ty. Mỗi năm làm việc tại công ty sẽ được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật lao động

-----------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

3.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

4. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

2. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;