Sau 6 năm, hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng vào ngày 15.08.2015. Xin kính nhờ tư vấn giúp:

1.- Khi tôi nghỉ việc vào ngày 15.08.2015, CGVDT có phải thanh toán tiền trợ cấp thôi việc mỗi năm là nửa tháng lương cho tôi theo luật định không? Cơ sở pháp lý để người sử dụng lao động thanh toán tiền trợ cấp thôi việc, hoặc không thanh toán tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động được thực hiện theo điều khoản nào?

2.- Nếu người sử dụng lao động vẫn từ chối thanh toán tiền trợ cấp thôi việc cho tôi, thì tôi phải làm gì?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động công ty luật MInh khuê

Tư vấn thanh toán khoản tiền trợ cấp thôi việc ?

Luật sư tư vấn Luật lao động gọi, 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc về cho chúng tôi, với vấn đền của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật lao động 2012

Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung của bộ luật lao động 2012

2. Nội dung tư vấn

Thứ nhất, bạn có được hưởng trợ cấp thôi việc không?

Căn cứ quy định tại điều 48 của Bộ luật lao động 2012 hợp đồng lao động chấm dứt theo những trường hợp sau thì người sử dụng lao động phải chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động:

- Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

- Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

- Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

- Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

- Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo những trường hợp nêu trên thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Do đó, trong trường hợp của bạn, bạn có thời gian làm việc tại CGVDT 6năm và thỏa thuận chấm dứt hợp đồng theo khoản 3 Điều 36 thuộc các trường hợp tại Điều 48 BLLĐ bạn sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp, CGVDT có trách nhiệm cũng như nghĩa vụ phải trả trợ cấp thôi việc cho bạn theo quy định của pháp luật.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Cụ thể:

Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động 2012 quy định về thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc như sau:

- Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

- Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật

- Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

Thứ hai, nếu CGVDT không trả trợ cấp thôi việc thì bạn nên làm gì?

Nếu công ty không đồng ý chi trả cho bạn khoản trợ cấp thôi việc trên, thì theo điều 200 Bộ luật lao động, bạn có thể yêu cầu hòa giải viên hoặc khởi kiện ra tòa án để giải quyết tranh chấp.

Theo khoản 1 điều 201 BLLĐ, trong trường hợp này, bạn có thể yêu cầu tòa án giải quyết mà không cần phải thông qua thủ tục hòa giải. Bạn cần gửi đơn khởi kiện đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi có trụ sở của CGVDT yêu cầu giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, hy vọng có thể giúp bạn giải quyết được những vướng mắc của mình. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162 .

Chúc bạn thành công

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động.