Do đó, qua 03 tháng làm việc chị M quyết định gửi đơn xin nghỉ việc và sau 03 ngày làm việc là chị M đã chấm dứt hợp đồng lao động? Luật sư cho biết chị M chấm dứt hợp đồng lao động là đúng hay sai? Vì sao? Căn cứ các quy định pháp luật giải quyết trường hợp này như thế nào có lợi cho người lao động.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn về chấm dứt HĐLĐ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động1900.6162

Trả lời:

Chào bạn,cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động 2012

2. Luật sư tư vấn:

Theo thông tin quý khách cung cấp thì chị mai làm việc với hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Lý do chị M xin nghỉ việc trước thời hạn là do  tiền lương hàng tháng chị M được lĩnh bị trễ hơn so với thoả thuận trong hợp đồng lao động. Như vậy thì theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 BLLĐ 2012 thì việc chị Mai chấm dứt HĐLĐ là có căn cứ. Cụ thể như sau: 

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

Bên cạnh đó thì theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 37 BLLĐ thì chị mai chỉ cần báo trước ít nhất 3 ngày làm việc. Vì vậy trong trường hợp trên chị Mai cũng đã báo trước cho công ty 3 ngày rồi mới nghỉ. Nếu chị Mai đã báo trước cho công ty 3 ngày làm việc thì chị Mai đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật. Cụ thể như sau:

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

...

Như vậy nếu chị M báo trước ba ngày làm việc thì chị M đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật. căn cứ theo Điều 37 BLLĐ 2012.

Về quyền lợi thì hai bên sẽ giải quyết theo quy định tại Điêu 47 BLLĐ 2012 như sau:

Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

Ngoài ra, nếu chị M làm việc thường xuyên từ 12 tháng trở nên thì chị M sẽ được chi trả trợ cấp thôi việc theo Điều 48 Bộ luật lao động năm 2012:

Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Tham khảo bài viết liên quan:

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn của người lao động ?

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động ?

Quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận  Tư vấn Pháp luật lao động.