Vậy xin hỏi Luật sư khi tôi xin thôi việc trong năm 2015 này thì tôi có được lãnh trợ cấp và tiền Bảo hiểm xã hội không?

Người gửi: LT.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao động của công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn về nhận trợ cấp Bảo hiểm xã hội

Luật sư tư vấn luật lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn công ty Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động 2012

Luật bảo hiểm xã hội 2006

Luật việc làm 2013

2. Nội dung phân tích:

Điều 48 Bộ luật lao động (BLLĐ) quy định về trợ cấp thôi việc như sau:

Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.”

Theo đó, Điều 36 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động:

Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã”.

Căn cứ tại khoản 9 Điều 36, dẫn chiếu tới Điều 37 Bộ luật lao động:

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."

Căn cứ tại khoản 1 Điều 48, khoản 9 Điều 36, khoản 3 Điều 37 theo đó người lao động làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người lao động này được nhận trợ cấp thôi việc. Đối chiếu với trường hợp của bạn, bạn làm việc liên tục tại công ty theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn đến nay là 10 năm, bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động do sức khỏe yếu. Do đó, bạn thuộc đối tượng người lao động được nhận trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Theo quy định, thời gian để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động thực tế cho người sử dụng lao động, trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Mỗi năm làm việc được hưởng trợ cấp bằng một nửa tháng tiền lương, tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc. 

Về trợ cấp thất nghiệp

Điều 49 Luật việc làm 2013 quy định về điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp như sau:

"Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

Như vậy, người lao động sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng được tất cả các điều kiện trên. Đối với trường hợp của bạn, bạn ký hợp đồng không xác định thời hạn với công ty và đã làm liên tục được 10 năm nay. Do đó có thể hiểu bạn đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp. Do vậy, bạn đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Về nhận lại tiền bảo hiểm xã hội đã tham gia

Theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Luật bảo hiểm xã hội, người lao động chỉ được hưởng bảo hiểm xã hội 1 lần khi xảy ra các trường hợp sau đây:

"a) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;

b) Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;

c) Sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;  

d) Ra nước ngoài để định cư"

Như vậy người lao động chỉ được hưởng bảo hiểm xã hội 1 lần trong những trường hợp được pháp luật quy định.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội, sau 1 năm (12 tháng) nghỉ việc nếu người tham gia bảo hiểm xã hội không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận xã hội bảo hiểm 1 lần đồng thời chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội sẽ được nhận lại sổ và hưởng trợ cấp 1 lần. Như vậy, đối với trường hợp của bạn, chỉ trong trường hợp bạn ngừng đóng bảo hiểm xã hội trong vòng 12 tháng thì  bạn mới có quyền yêu cầu được nhận trợ cấp 1 lần căn cứ theo số tiền BHXH đã đóng. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Như vậy, khi chấm dứt hợp đồng lao động với công ty, bạn sẽ được nhận trợ cấp thôi việc và trợ cấp thất nghiệp, còn tiền bảo hiểm xã hội bạn sẽ được nhận sau 12 tháng không tham gia bảo hiểm xã hội.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng lựa chọn Công ty chúng tôi!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật MInh Khuê