Trường hợp này có được coi la TNLĐ ko? Nếu là tai nạn lao động thì người lao động có được hưởng các chế độ gì trong những ngày nghỉ không? Cp viện phí, chi phí lương cho những ngày nghỉ này tính như thế nào. Phía Công ty có chịu trách nhiệm gì không?

Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Nguyễn Thị Tú Quyên

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi vào chuyên mục của chúng tôi, câu hỏi của bạn được trả lời như sau:

Tai nạn lao động được định nghĩa tại điểm 2.1 của Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN của Liên tịch Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam. Cụ thể:

a, Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (kể cả thời gian giải quyết các nhu cầu cần thiết trong thời gian làm việc theo Bộ Luật Lao động quy định như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc).

b, Tai nạn được coi là tai nạn lao động trong các trường hợp sau:

- Tai nạn xảy ra trên tuyến đường đi và về trực tiếp giữa nơi làm việc và:

+ Nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người lao động.

+ Nơi người lao động đến nhận tiền lương, tiền công.

- Tai nạn xảy do những nguyên nhân khách quan như: thiên tai, hoả hoạn và các trường hợp rủi ro khác gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao động hoặc không xác định được người gây ra tai nạn xảy ra tại nơi làm việc. 

Tất cả những trường hợp trên phải được thực hiện ở địa điểm và thời gian hợp lý.

Như vậy Theo điểm b như nêu ở trên thì trường hợp nhân viên của bạn trên đường đi làm bị tai nạn do đâm phải một con chó thì vẫn được coi là tai nạn lao động.

Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động khi bị tai nạn lao động được quy định tại Điều 114, Điều 145 Bộ luật lao động năm 2012:

“Điều 144. Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

2. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

3. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này”.

“Điều 145. Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

2. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.

3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này”.

(Video hướng dẫn mức bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động)

Ý kiến bổ sung:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Chúng tôi, Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

* Theo điểm 2.1 của Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN của Liên tịch Bộ LĐ-TB&XH và Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn LĐVN có quy định :

Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (kể cả thời gian giải quyết các nhu cầu cần thiết trong thời gian làm việc theo Bộ luật Lao động quy định như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc).

* Theo quy định tại khoản 1,Điều 39 và Điều 47 Luật Bảo Hiểm Xã Hội (BHXH), người lao động bị tai nạn thuộc 1 trong các trường hợp sau đây thì được hưởng chế độ tai nạn lao động: Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc; Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động; Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.

Như vậy nhân viên của bạn trên đường đi làm bị tai nạn do đâm phải một con chó chạy trên đường, nhân viên này bị ngã xe gây đứt dây chằng và rách sụn chân phải, hiện phải điều trị tại BV thì bạn phải xem xét trong trường hợp nhân viên của bạn bị tai nạn trên tuyến đường đi làm và thời gian đi làm có hợp lí hay không.Nếu nhân viên của bạn đi lm trên đúng tuyến đường từ nơi ở đến nơi làm của anh ta nhưng thời gian không phù hợp với giờ đi làm hoặc giờ về thì cũng không được coi là tai nạn lao động.Nếu cả về tuyến đường và thời gian đều hợp lý thì mới được coi là tai nạn lao động. Khi đó :

- Theo Điều 145 Bộ Luật Lao Động năm 2002 quy định, người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì được hưởng chế độ tai nạn lao động theo quy định của luật BHXH.Người lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc mà doanh nghiệp chưa đóng BHXH cho cơ quan BHXH thì doanh nghiệp phải trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động theo quy định của Luật BHXH.

- Theo điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc: “Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt nam, bao gồm: Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên…”.Vậy tùy theo nhân viên của bạn có thuộc vào đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc hay không.

- Theo quy định tại Khoản 2 Điều 105; Khoản 2, Khoản 3 Điều 107, Điều 143 BLLĐ, trách nhiệm của NSDLĐ khi có NLĐ bị tai nạn lao động cụ thể:

+ Người bị  TNLĐ phải được cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo.

+ Trong thời gian NLĐ nghỉ việc để chữa trị vì TNLĐ, NSDLĐ phải trả đủ lương.

+ NSDLĐ phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị TNLĐ. NLĐ được hưởng chế độ BHXH về TNLĐ.

+ NSDLĐ có trách nhiệm bồi thường ít nhất bằng 30 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người chết do TNLĐ mà không do lỗi của NLĐ. Trong trường hợp do lỗi của NLĐ thì cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất cũng bằng 12 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

- Ngoài ra, theo quy định tại Điều 629, bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: “Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác; nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình, thì chủ sở hữu không phải bồi thường.”Theo đó, chủ sở hữu của con chó mà nhân viên bạn đâm phải gây tai nạn( nếu xác định được lỗi không phải của nhân viên bên bạn) phải chi trả số tiền viện phí cho nhân viên của bạn.

 

Ý kiến trả lời bổ sung thứ hai:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi vào chuyên mục của chúng tôi, câu hỏi của bạn được tư vấn như sau:

Tai nạn lao động được định nghĩa tại điểm 2.1 của Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN của Liên tịch Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.

Cụ thể:

a, Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (kể cả thời gian giải quyết các nhu cầu cần thiết trong thời gian làm việc theo Bộ Luật Lao động quy định như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc).

b, Tai nạn được coi là tai nạn lao động trong các trường hợp sau:

- Tai nạn xảy ra trên tuyến đường đi và về trực tiếp giữa nơi làm việc và:

+ Nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người lao động.

+ Nơi người lao động đến nhận tiền lương, tiền công.

- Tai nạn xảy do những nguyên nhân khách quan như: thiên tai, hoả hoạn và các trường hợp rủi ro khác gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao động hoặc không xác định được người gây ra tai nạn xảy ra tại nơi làm việc.

Tất cả những trường hợp trên phải được thực hiện ở địa điểm và thời gian hợp lý.

c, Tai nạn lao động được chia thành 3 loại:

+ Tai nạn lao động chết người: là tai nạn lao động dẫn đến chết người (chết ngay tại nơi xảy ra tai nạn; chết trên đường đi cấp cứu; chết trong thời gian cấp cứu; chết trong thời gian đang điều trị; chết do tái phát của chính vết thương do tai nạn lao động gây ra, …).

+ Tai nạn lao động nặng: người bị tai nạn bị ít nhất một trong những chấn thương được quy định tại Phụ lục số 1 kèm theo Thông tư này.

+ Tai nạn lao động nhẹ: là những tai nạn lao động không thuộc 2 loại tai nạn lao động nói trên.

Như vậy trường hợp bạn nêu trên nhân viên gặp tai nạn trên đường đi làm có nằm trong các trường hợp của tai nạn lao động.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Lao động thì: “người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao động. Người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động. Nếu doanh nghiệp chưa tham gia loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì người sử dụng lao động phải trả cho người lao động một khoản tiền ngang với mức quy định trong Điều lệ Bảo hiểm xã hội.”(  ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ và được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 01/2003 ngày 09 tháng 01 năm 2003).

Về chế độ bảo hiểm xã hội, theo quy định tại Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội về đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong đó bao gồm người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên.

Vậy nếu nhân viên của bạn thuộc trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn đủ 3 tháng trở lên thì phía công ty phải chịu những trách nhiệm nêu bên trên.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê