Cách đây 2 năm tôi có nhận chạy việc cho một bạn ở trên bắc giang vầ tôi với bạn ấy cũng làm giấy tờ biên nhận là nhận số tiền là 15000.000triệu (đồng)  đặt cọc của bạn ấy để chạy việc cho a trai, sau khi giao tiền và hồ sơ giữa hai bên có làm 1 bản giấy biên nhận. Sau 1 tuần tôi có lo được cho anh trai bạn ấy vào phỏng vấn và coi như đã được nhận vào làm. Nhưng bên công ty xem lại hồ sơ thì thấy hồ sơ không khớp nên trả lại lúc ấy tôi cũng có bảo với họ là lỗi hồ sơ làm sai là do họ và họ cũng nhận như thế và nài nỉ tôi làm tiếp hộ. Nhưng sau đó do nhận hồ sơ chỉ nhận 1 lần nên tôi cố cũng không được nữa và bạn ấy bảo là nếu chạy cho a không được thì sẽ chạy cho bạn ấy và bạn ấy gửi hồ sơ cho tôi, tôi cũng gửi hồ sơ của bạn ấy đi nhưng do quy chế thay đổi  không nhận nữa nên không được và đến bây giờ là tròn 2 năm bạn ấy yêu cầu tôi rút hồ sơ về và đòi lại tiền cọc tôi cũng rút hồ sơ về nhưng tiền cọc thì nhận được 1/2 do lần trước đáng lẽ đã được rồi và lỗi hồ sơ là của họ nên không rút lại được hết  tôi cũng nói với bạn ấy như thế nhưng họ không nghe và yêu cầu tôi trả đủ tiền nếu không sẽ kiện tôi ra toà.

Xin hỏi luật sư nếu bạn ấy kiện mà tôi đưa ra lý lẽ như của tôi có được không ?

Và tôi có bị thua kiện không ? Và có phải trả toàn bộ tiền cọc là 15tr không ?

Xin chân thành cảm ơn văn phòng luật sư ! 

Người gửi:M.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật  lao động của công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn về tranh chấp trong vay nợ?

Luật sư tư vấn trực tuyến gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty luật Minh Khuê,với thông tin câu hỏi bạn cung cấp chúng tôi xin được tư vấn như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình do Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành

Nội dung tư vấn:

- Theo điều 358 Bộ luật dân sự có quy định về đặt cọc

1. Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.

Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.

2. Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Ngoài Điều 358 Bộ luật dân sự về vấn đề đặt cọc, theo Nghị quyết 01/2003 của Hội đồng thẩm phán có hướng dẫn về tranh chấp hợp đồng dân sự có đặt cọc như sau:

Thoả thuận về đặt cọc là một giao dịch dân sự; do đó, việc đặt cọc chỉ có hiệu lực khi có đủ các điều kiện quy định tại bộ luật dân sự và phải được lập thành văn bản (có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính).

Căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp thì việc bạn nhận đặt cọc 15000.000 xin việc cho anh trai bạn của bạn đã lập thành văn bản có giấy viết tay biên nhân số tiền này nên giấy biên nhận đó vẫn có giá trị pháp lý.Tuy nhiện giữa bạn và bạn của bạn lại không có hợp đồng dân sự nào mà việc đặt cọc chỉ được giao kết bằng miệng ngoài ra hai bên không có sự thỏa thuận nào khác về việc xảy ra tranh chấp nên khi bạn của bạn khởi kiện bạn ra tòa thì bạn nên đưa ra những chứng cứ lý lẽ cho việc thực hiện đặt cọc điều đó để bảo vệ quyền và lợi ích cho bạn.

 Trong trường hợp khi hai bên có tranh chấp về đặt cọc mà hai bên lại  không có hợp đồng cũng như thoả thuận khác về việc xử lý đặt cọc, thì việc xử lý được thực hiện như sau:

a. Trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng hoặc chỉ để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng hoặc vừa để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng vừa để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng thì bên nào có lỗi làm cho hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện hoặc bị vô hiệu, thì phải chịu phạt cọc theo quy định tại khoản 2 điều 363 BLDS

b. Trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng mới có sự vi phạm làm cho hợp đồng không được thực hiện hoặc mới phát hiện hợp đồng bị vô hiệu thì không phạt cọc. Việc giải quyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng hoặc xử lý hợp đồng vô hiệu được thực hiện theo thủ tục chung.

c. Trong trường hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định điều kiện nếu đặt cọc bị vô hiệu là hợp đồng cũng bị vô hiệu, thì hợp đồng đương nhiên bị vô hiệu khi đặt cọc đó bị vô hiệu. Việc xử lý đặt cọc bị vô hiệu và hợp đồng bị vô hiệu được thực hiện theo quy định tại điều 146 BLDS

Ngoài ra, trong trường hợp nếu cả hai bên cùng có lỗi hoặc trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan thì không phạt cọc.

Theo quy định trên thì việc bạn không thực hiện được việc nhận chạy việc cho a trai bạn của bạn  là do khi thực hiện chạy việc hồ sơ của anh trai bạn của bạn bị sai và bạn của bạn đã thừa nhận điều đó và việc bạn của bạn xin bạn tiếp tục nộp hồ sơ xin việc cho anh ấy nhưng không được do quy chế công ty thay đổi hơn nữa việc thỏa thuận nếu không xin được việc cho a trai thì xin cho bạn ấy không được thỏa thuận khi biên nhận số tiền đặt có  nên lỗi này là do bên đặt cọc vì thế bạn không bị phạt cọc khi đó thì hai bên trả lại cho nhau những gì nhận ban đầu.Nhưng bạn chỉ nhận lại được 1/2 số tiền từ công ty do hồ sơ xin việc của anh trai bạn của bạn bị sai chứ không phải do bạn  nên đã vi phạm hợp đồng việc làm và họ có quyền phạt 1/2 số tiền đó.Do đó bạn không phải trả lại hết 15000.000 cho bạn của bạn theo quy định này mà chỉ phải trả lại 1/2 số tiền bạn lấy lại được từu công ty .

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật  dân sự.