Nhưng tôi đưa bằng cho ông ta vào chiều thứ 7 nên tôi nghĩ ông ta không đi công chứng được do cơ quan nhà nước không làm việc vào chiều thứ 7 và tôi nghĩ ông ta đang cầm bằng của tôi nhưng vì mục đích nào đó mà ông ta không trả bằng cho tôi. Tôi có hỏi là cơ quan công an nào bắt của ông thì ông ấy không nói, và ông ta luôn mồn nói là sẽ tìm mọi cách trả lại cho tôi nhưng đến nay đã 2 tuần rồi và chưa có gì tuyên chuyển cả. Tôi có nói với ông ta là nếu ông không làm được thì tôi sẽ nhờ công an vào cuộc làm việc và ông ta nói cứ báo và ông ta không sợ. Tôi rất lo lắng vì trường hợp này của tôi nên tôi cần luật sư tư vấn giùm tôi. Trong trường hợp này của tôi thì tôi rất mong muốn công ty luật tư vấn cho tôi:

1. Cho tôi hỏi là nếu công an bắt vì tội ông ấy liên quan đến bằng giả thì bằng và bảng điểm thật của tôi là thật có vấn đề gì không (tôi không biết ông này liên quan đến làm bằng giả), liệu có được công an họ trả lại hay không?

2. Nếu công an bắt ông ta thì tại sao chỉ bắt chiếc cặp mà không giam giữ ông ta luật sư có thể giải thích giúp tôi không?

3. Hay nếu công an không bắt ông mà ông ta chỉ nói dối để ông muốn giữ bằng của tôi không chịu trả thì tôi phải làm gì để có thể lấy lại được bằng của tôi. Theo luật sư tôi có lên trình báo công an không và nên trình báo công an câp quận/huyện hay là cấp phường/xã nơi ông ta cư trú

4. Tôi có thể kiện ông ta vì tội lừa gạt chiếm đoạt tài sản của người khác được không trong trường hợp không có giấy tờ biên nhận giữa hai bên nhưng tôi có băng ghi âm lại cuộc nói chuyện sau hôm đưa bằng và ghi âm được ông ta nói là có cầm bằng của tôi. Hay tôi có thể kiện ông ta về tội khác được không.

5. Nếu ông ta đánh mất bằng của tôi thì tôi tôi phải làm gì? Nếu bắt ông ta đền bù thì cách thức đền bù như thế nào?

6. Nếu ông ta trả bằng cho tôi nhưng tôi chưa tin là bằng thật do nhà trường cấp cho tôi thì tôi có thể đến cơ quan nào của nhà nước để có thể xác minh tính thật giả của chiếc bằng này? hay văn phòng công ty nào có thể xác minh tính thật giả của chiếc bằng.

Rất mong quý luật sư giúp đỡ tôi, tôi đang rất hoang mang và chưa biết phải xử trí thế nào trong trường hợp này. Xin cảm ơn! -- Thân ái!

Người gửi: T.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn về trường hợp bị người tuyển dụng giữ bằng không trả?

Tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng!

 

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lí:

Luật hình sự 1999

Luật tố tụng hình sự 2003

Thông tư liên tịch số: 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố quy định về cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm 

Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, nếu như người đàn ông đang giữ bằng của bạn ( chúng tôi tạm gọi là ông A) mà bị bắt thì bằng và bảng điểm của bạn có thể sẽ bị công an giữ lại nếu là vật chứng cho tội làm bằng giả theo quy định tại Luật tố tụng hình sự 2003 sau:

"74. Vật chứng

Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội."

Nếu như bằng và bảng điểm của bạn không phải là vật chứng thì bạn sẽ được trả lại. Còn nếu đó là vật chứng thì sẽ được xử lí theo Luật tố tụng hình sự 2003 như sau:

"76. Xử lý vật chứng

1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

2. Vật chứng được xử lý như sau:

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ;

b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;

c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;

d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật;

đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự."

Như vậy, bằng của bạn có thể sẽ được trả lại theo Khoản 3 Điều 76 như trên.

Thứ hai, về việc công an chỉ giữ lại chiếc cặp mà không giam giữ ông A. Điều 79 Luật tố tụng hình sự 2003 quy định:

"79. Các biện pháp và căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn

Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm."

Như vậy, các biện pháp ngăn chặn chỉ được áp dụng trong trường hợp: để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án. Và  công an có thể sẽ  áp dụng một hoặc một số các biệp pháp trong số các biện pháp ngăn chặn như: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Vì vậy, công an có thể chỉ giữ lại chiếc cặp mà không giam giữ ông A.

Thứ ba, hành vi của ông A có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định Bộ luật hình sự 1999 như sau:
 
"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm."

Để hiểu rõ về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bạn có thể tham khảo bài viết: Tội lừa đảo chiếm đọat tài sản.

"Điều 141. Tội chiếm giữ trái phép tài sản 

1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng trở lên hoặc cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hoá có giá trị đặc biệt, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm"

Thứ tư, bạn có thể trình bào sự việc đến cơ quan công an cấp xã xã theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số: 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC.

Thứ năm, nếu ông A làm mất bằng của bạn thì bạn có thể thực hiện việc yêu cầu bồi thường thiệt hại theo các quy định tại Bộ luật dân sự 2005 như sau:

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

"Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường."

Thứ sáu, hiện nay pháp luật không có quy định văn phòng công ty nào có thể xác nhận tính thật giả của bằng Đại học, để biết được bạn có thể liên hệ với trường học đã cấp bằng cho bạn để kiểm tra

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ.