Theo luật lao động thì thời gian thử việc: Không quá 60 ngày đối với trình độ Đại học, không quá 30 ngày đối với trình độ Trung cấp, Bằng nghề, không quá 06 ngày đối lao động khác.- Qua hết thời gian thử việc 60 ngày tôi đã làm tờ trình đề nghị người sử dụng lao động ký HĐLĐ nhưng Người sử dụng lao động không ký và vẫn để cho tôi tiếp tục làm việc đến ngày 31/01/2016 mới làm quyết định Chấm dứt HĐLĐ.- Thời điểm nhận quyết định: 20/01/2016 (Thời gian báo trước 10 ngày)- Trong thời gian làm việc không vi phạm kỷ luật nội quy của công ty.2. BHXH, BHYT, BHTN được Người sử dụng lao động cho chuyển tiếp từ đơn vị cũ đến từ tháng 10/2015. Do quá trình nhân viên phụ trách làm thủ tục báo tăng trể hết 01 tháng (tháng 10/2015). Đến tháng 12/2015 làm truy đóng BHXH, BHYT, BHTN. Người sử dụng lao động khấu trừ luôn cả khoản 22% của doanh nghiệp vào người lao động.3. Không chi trả tiền phép năm trong thời gian làm việc. Theo luật lao động thì ngày phép năm được tính là ngày kể cả thời gian thử việc, học việc, đào tạo.

Kính mong nhận được sự tư vấn sớm của Đoàn luật sư Minh khuê.Trân trọng cám ơn!

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mụcTư vấn pháp luật lao độngcủa công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật lao độnggọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13

Luật số 38/2013/QH13 của Quốc hội : Luật việc làm

Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 của Quốc hội

2, Nội dung tư vấn:

Theo quy định về chế độ thử việc, khi hết thời gian thử việc mà Công ty không ký kết HĐLĐ cho NLĐ, NLĐ không được thông báo kết quả thử việc mà vẫn tiếp tục làm việc thì có thể  được làm việc chính thức.

Tuy nhiên pháp luật không có quy định cụ thể trường hợp đương nhiên được làm việc chính thức sẽ tương ứng với loại HĐLĐ có xác định thời hạn bao lâu, do đó cần thiết phải căn cứ vào thỏa thuận tại hợp đồng thử việc để biết trường hợp sau khi thử việc đạt yêu cầu thì hai bên sẽ ký HĐLĐ loại gì, dùng làm cơ sở xác định trách nhiệm thực hiện HĐLĐ đã được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc.

Trong trường hợp của bạn, qua hết thời gian thử việc 60 ngày tôi đã làm tờ trình đề nghị người sử dụng lao động ký HĐLĐ nhưng Người sử dụng lao động không ký và vẫn để cho tôi tiếp tục làm việc đến ngày 31/01/2016 thì HĐLĐ đương nhiên được xác lập.

Sau khi kết thúc thời gian thử việc Công ty đề nghị chấm dứt quan hệ lao động với NLĐ, trường hợp NLĐ đồng ý thì hai bên thỏa thuận chấm dứt quan hệ lao động đó. Trường hợp NLĐ không đồng ý, Công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ đã được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc, thì phải thực hiện đúng quy định tại Điều 38 Bộ luật Lao động, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải có căn cứ và tuân thủ thời gian báo trước cho NLĐ.

Điều 38 Bộ Luật lao động năm 2012 quy định:

"1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."

Căn cứ vào Điều 38 Bộ Luật lao động năm 2012 và những thông tin bạn cung cấp, trong trường hợp của bạn, NSDLĐ đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.

2, Người sử dụng lao động khấu trừ luôn cả khoản 22% của doanh nghiệp vào người lao động

Căn cứ điểm a Khoản 1 điều 2, khoản 1 Điều 86, khoản 1 Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 57 Luật việc làm 2013; điểm a khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 13 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014.

Hàng tháng NSDLĐ phải đóng 22% tính trên tiền lương tháng của NLĐ vào quỹ BHXH, BHYT, BHTN. NLĐ phải đóng 10,5% tiền lương tháng vào quỹ BHXH, BHYT, BHTN.

Như vậy, việc NSDLĐ khấu trừ luôn 22% của doanh nghiệp vào NLĐ là sai.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012, tranh chấp lao động cá nhân về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế bạn có thể gửi đơn lên toàn án nhân dân cấp huyện nơi đặt trụ sở của công ty để giải quyết.

3. Không chi trả tiền phép năm trong thời gian làm việc.

Khoản 1 Điều 144 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:"Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ."

Nếu qua thương lượng trực tiếp mà NSDLĐ không đồng ý trả tiền, bạn có quyền làm đơn yêu cầu Hội đồng hòa giải cơ sở (nếu Công ty có Hội đồng hòa giải) hoặc yêu cầu cơ quan lao động cấp huyện cử hòa giải viên lao động (nếu công ty không có Hội đồng hòa giải) để hòa giải. Bạn cũng có thể nhờ công đoàn cơ quan giúp bạn thương lượng. Nếu hòa giải không thành, bạn có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Lao động.