Làm được 1 tháng và đã ký hợp đồng chính thức, sang tháng thứ 2, em làm bình thường và do lý do bị ốm nên đã xin phép quản lý Cho nghỉ ốm (xin phép bằng tin nhắn, và nhờ người xin). Do ốm không đi bệnh viện em nghỉ 4 hôm đến hôm thứ 5 em đến làm và đang làm thì quản lý nói không cho làm nữa và yêu cầu lên văn phòng. Em lên văn phòng thì họ quyết định cho em nghỉ hẳn. Em có hỏi có cần viết đơn không họ nói không cần. Và hẹn đến ngày trả lương em đến họ nói truy phạt em 4.300.000 vnđ. Em có hỏi họ nói do em đơn phương bỏ việc. Em có giải trình lý do em bị ốm và yêu cầu gặp quản lý thì quản lý họ phủ nhận họ không đuổi em do em tự ý bỏ việc. Vậy em muốn hỏi quý luật sư là em nên làm thế nào để lấy được tiền lương và sổ bảo hiểm xã hội. Mong quý luật sư trả lời và cho em hướng giải quyết tốt nhất.

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi:D.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn về vấn đề nghỉ ốm của người lao động?

Luật sư tư vấn trực tuyến gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công tu luật Minh Khuê,với thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012

2. Nội dung tư vấn:

Theo quy định tại điều 116 bộ luật lao động suy định như sau :

Điều 116.Nghỉ việc riêng,nghỉ không hưởng lương.

1.Người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những trường hợp sau đây

a) Kết hôn: nghỉ 03 ngày;

b) Con kết hôn: nghỉ 01 ngày;

c) Bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng chết; vợ chết hoặc chồng chết; con chết: nghỉ 03 ngày.

2. Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn.

3. Ngoài quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương.

Căn cứ theo quy định tại khoản 3 điều này thì khi bạn nhờ người nhắn tin xin quản lý cho bạn nghỉ ốm và được quản lý đồng ý cho việc bạn nghỉ thì bạn được nghỉ và không hưởng lương theo quy định này. Do thông tin bạn cung cấp chưa đủ nên tôi không biết người quản lý công ty bạn có cho bạn nghỉ ốm không nếu trường hợp họ không đồng ý cho bạn nghỉ mà bạn vẫn nghỉ mà công ty không có quy định khác về điều này thì việc bạn nghỉ là vi phạm pháp luật ,trong trường hợp nếu người quản lý họ đồng ý cho bạn nghỉ vì ốm thì bạn được nghỉ và hưởng không lương theo quy định này.

Theo điều 38 bộ luậ lao động quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:

Điều 38.Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động.

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Như vậy công ty chỉ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động khi có một trong các căn cứ tại Khoản 1 nêu trên. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động thì người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động số ngày nhất định tùy theo hợp đồng lao động đã ký với người lao động theo quy định của pháp luật.Trong trường hợp của bạn người quản lý công ty đã cho bạn nghỉ việc mà không có lý do và cũng không báo trước cho bạn biết. Như vậy người sử dụng lao động đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hơn nữa đến ngày hẹn bạn lấy lương rồi lại trừ lương của bạn do bạn tự đơn phương bỏ việc lại càng vi phạm pháp luật lao động.Để lấy lại tiền lương và sổ bảo hiểm xã hội bạn có quyền khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đó có trụ sở để yêu cầu giải quyết quyền lợi cho bạn.

Khi đó, người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ sau:

Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật MInh Khuê