Công ty vẫn còn nợ tôi 03 ngày nghỉ bù có tính công. Vậy công ty bắt buộc phải đóng BHXH cho tôi trong tháng 05 hay không và tôi báo nghỉ như vậy có vi phạm luật lao động không ? 

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: N.M.Q

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi:  - 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục tư vấn pháp luật lao động của công ty chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động 

Nghị định 44/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của bộ luật lao động về hợp đồng lao động 

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, về vấn đề người sử dụng lao động không ký kết hợp đồng sau thời gian thử việc mà vẫn sử dụng bạn làm việc.

Tại các Điều 27, Điều 28 và Điều 29Bộ Luật lao độngnăm 2012 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2013) quy định: Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 1 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

- Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

- Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

- Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

Tiền lương của NLĐ trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì NSDLĐ phải giao kết HĐLĐ với NLĐ.

Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận. Trường hơp của bạn đã hết thời hạn thử việc nhưng công ty không ký hợp đồng lao động và bạn vẫn tiếp tục đi làm. Theo quy định tại khoản 4, Điều 7, Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 hết thời gian thử việc, NSDLĐ thông báo kết quả làm thử cho NLĐ. Nếu đạt yêu cầu hai bên phải tiến hành ký kết HĐLĐ hoặc NLĐ không được thông báo mà vẫn tiếp tục làm việc thì người đó đương nhiên được làm việc chính thức. Tuy nghị định số 44/2003/NĐ-CP đã hết hiệu lực và được thay thế bằng nghị định 44/2013/NĐ-CP nhưng căn cứ vào khoản 2, nghị định 44/2013/NĐ-CP quy định: "Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động và các quy định trước đây trái với quy định tại Nghị định này hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực."

Như vậy, vấn đề không tiếp tục ký hợp đồng khi hết thời gian thử việc mà vẫn tiếp tục làm việc không được quy định tại nghị định 44/2013/NĐ-CP và các văn bản pháp luật đang có hiệu lực hiện hành. Điều đó có nghĩa là việc áp dụng điều 7, nghị định 44/2003/NĐ-CP không trái với quy định của pháp luật hiện hành và vẫn có thể áp dụng được vì chưa có văn bản nào hướng dẫn giải quyết trường hợp này.

Tuy nhiên pháp luật không có quy định cụ thể trường hợp đương nhiên được làm việc chính thức sẽ tương ứng với loại HĐLĐ có xác định thời hạn bao lâu, do đó cần thiết phải căn cứ vào thỏa thuận tại hợp đồng thử việc để biết trường hợp sau khi thử việc đạt yêu cầu thì hai bên sẽ ký HĐLĐ loại gì, dùng làm cơ sở xác định trách nhiệm thực hiện HĐLĐ đã được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc.

Thứ hai, thời hạn bảo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ đã được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc, thì phải thực hiện đúng quy định tại Điều 37 Bộ luật Lao động, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải có căn cứ và tuân thủ thời gian báo trước cho NSDLĐ:

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."

Như vậy, trường hợp của bạn thuộc điểm a, khoản 2, điều 37, bộ luật lao động nêu trên nên chỉ cần báo trước ít nhất 3 ngày bạn đã báo trước 6 ngày là đúng quy định pháp luật.

Thứ ba, vấn đề bảo hiểm tháng 5.

Căn cứ theo quy định tại khoản 2, điều 5 luật bảo hiểm xã hội thì mức đóng bảo hiểm xã hội dựa trên tiền lương, tiền công của người lao động. Tháng 5 bạn không làm hết tháng, nên việc công ty đóng bảo hiểm cho bạn như các tháng khác có nghĩa công ty phải bù cho bạn 1 khoản tiền như vậy nếu bạn muốn đóng tháng 5 thì bạn có thể thỏa thuận với công ty và bạn sẽ thanh toán cho công ty phần tiền đó.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi cho thắc mắc của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng chúng tôi!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật lao động - Công ty luật Minh Khuê