. 4/ Trong tháng 11, qua 3 cuộc họp với Công Đoàn, P.Tổ chức, P.KTHC... (không có Giám đốc tham dự); cuối cùng phía Công ty cũng không có bất kỳ văn bản trả lời chính thức kết quả giải quyết đơn khiếu nại mà tôi đã gửi ngày 3/11. 5/ Ngày 23/11 Công ty ban hành quyết định khác hủy bỏ  Quyết định 1 về việc chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn (viết tắt : Quyết định 2) . Đồng thời gửi thư thông báo mời Tôi làm việc lại từ 25/11/2015 Tất cả 2 loại văn bản là Quyết định 2 và thư mời làm việc đều không có bất kỳ sự làm việc và thỏa thuận nào của Tôi. 6/ Ngày 25/11 Tôi trả lời với Côngty (bằng văn bản)với nội dung: 2 văn bản trong mục 5 là không đủ cơ sở và giá trị pháp lý để buộc tôi phải quay lại làm việc. VàTôi tiếp tục yêu cầu công ty trả lời đơn khiếu nại lần 1 bằng văn bản chính thức . Nếu không nhận được trả lời thỏa đáng Tôi sẽ tiếp tục khiếu kiện cấp có thẩm quyền cao hơn hoặc khởi kiện tại Tòa Án. 7/ Tháng 12/2015 Công ty yêu cầu Phòng LĐ Quận hòa giải tranh chấp lao động (Lần nàycông ty ủy quyền toàn bộ cho 1 Luật sư và khiếu nại ngược lại tôi yêu cầu Tôi chấp hành HĐLĐ vẫn còn hiệu lực, .Nếu không phải bồi thường ngược lại cho Công ty 1/2tháng lương + 100 triệu). Ngày 18/12 tại Phòng LĐ Quận: CB hòa giải lao động, Luật sư được ủy quyền và Tôi cùng làm việc. Và biên bản hòa giải không thành được thành lập. ́́8/ Tháng 1/2016 cong ty khởi kiện Tôi tại Tòa án Nhân dân Quận. (Tất cả các văn bản tài liệu trên Tôi đều lưu trữ) Trong vụ việc nàyTôi vẫn còn chưa có ý định khởi kiện công ty vì thời gian lúc này không cho phép, Tôi phải đi tìm việc lo cuộc sống rất vất vả. Nay công tymkhởi kiện ngược lại tôi . Kính mong Quý Công ty Luật Minh Khuê tư vấn giúp Tôi phải tiếp tục xử lý vấn đề này thế nào cho hợp pháp và không thiệt thòi cá nhân Tôi. Kính chúc Quý Công ty luôn phát triển và mang lại niềm tin cho người lao động chúng tôi. Trân trọng./. Người lao động. Vũ Trường.​

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động công ty Luật Minh khuê. 

Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 19006162

( Câu hỏi đang trong quá trình cập nhật câu trả lời)

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I Cơ sở pháp lý:

 Bộ Luật lao động năm 2012

II Nội dung phân tích

Trong trường hượp của bạn thì bạn nên đi làm lại công ty sau đó tiếp tục giải quyết các vấn đề với công ty nếu có tranh chấp cụ thể.Vì thứ nhất hợp đồng giữa bạn với công ty vẫn còn hiệu lực và bạn không xin nghỉ việc hay cũng không vi phạm bất cứ quy định nào của công ty để buộc bị phải nghỉ việc,nên bạn bắt buộc vẫn phải có nghĩa vụ thực hiện tiếp hợp đồng.Theo quy định của Bộ Luật lao động năm 2012 thì rõ ràng người sử dụng lao động của bạn sai trước vì ông ta không có quyền được sa thải bạn khi bạn không vi phạm bất kỳ quy định nào để dẫn tới bị sa thải

Theo quy định tại Điều 38 và Điều 41 Bộ luật lao động năm 2012

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng

Điều 41. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này.

Như vậy rõ ràng trong trường hợp này của bạn bạn không có lỗi gì như vậy là người sủa dụng lao động đã đơn phương chấm dứt hợp đồng loa động trái pháp luật

Và theo Điều 42

Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Rõ ràng quyết định chấm dứt hợp đồng với bạn của người sử dung lao động là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.Trong trường hợp này của bạn,bạn có hai sự lựa chọn là tiếp tục đi làm và không muốn tiếp tục làm việc.Mà theo như bạn nói thì bạn không muốn tiếp tục làm việc cho công ty nữa như vậy thì bạn hoàn toàn có quyền, trong trường hợp bạn không không tiếp tục làm việc nữa thì bạn sẽ được hưởng là tiền lương bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày  không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và trợ cấp thôi việc được quy định tại Điều 48

Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Trường hợp mà công ty khởi kiện bạn yêu cầu bạn đi làm lại nếu không đi làm thì phải bồi thường cho công ty là 1/2 tháng lương và 100 triệu.Trong trường hợp này nếu họ kiện thì chỉ cần bạn có bằng chứng là quyết định sa thải bạn trái pháp luật thì bạn sẽ yên tâm.Bạn không những không phải bồi thường mà công ty đó còn phải bồi thường cho bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!         

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật lao động.