Tháng 2 vừa rồi, trưởng đơn vị B nói tôi không còn phù hợp, tổ chức buổi họp nội bộ nhưng không có đại diện công ty, sau đó lập biên bản họp nội dung thông báo đến công ty tôi không còn phù hợp và không tiếp tục trả lương sau 30/4, đề nghị công ty xem xét bố trí công việc khác hoặc giải quyết theo luật định. Tôi cũng kí vào biên bản họp đó. Đơn vị B không phải là Công ty con, không có dấu mộc riêng. Trong khi công ty chưa ra bất kỳ thông báo hay văn bản gì, chưa tổ chức buổi họp nào thì Trưởng Đơn vị B đã không trả lương tháng 5 cho tôi. Vậy cho tôi hỏi họ làm vậy có đúng không ? Và tôi đặt trường hợp như sau :

- Nếu tôi nộp đơn lên công ty nhưng vẫn không được phản hồi giải quyết, lương thì không trả, thì tôi phải làm sao ?

- Nếu Công ty tổ chức buổi họp, họ liên kết gây sức ép tôi kí biên bản gì đó, nếu tôi không đồng ý kí thì sự việc tiếp theo sẽ như thế nào ? Tôi phải làm gì ?

- Nếu họ đơn phương chấm dứt hơp đồng nhưng không thỏa thuận với tôi, thì tôi phải làm gì ?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: H.A.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến cho chúng tôi, với vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật lao động 2012 

2. Nội dung tư vấn

Căn cứ tại Khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động 2012 quy định thì khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

"a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng".

Như vậy, trong trường hợp của bạn, khi công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn thì công ty phải có trách nhiệm báo trước cho bạn. Do bạn ký hợp đồng không thời hạn nên công ty sẽ phải báo trước cho bạn ít nhất 45 ngày. Do đó, khi công ty cho bạn nghỉ việc mà không thông báo trước là không đúng quy định pháp luật. Bạn có thể làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận/ huyện nơi cơ quan bạn làm việc có trụ sở để giải quyết.

Căn cứ tại Điều 31 Bộ luật lao động 2012 quy định về việc chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động như sau:

"1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của người lao động.

2. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của người lao động.

3. Người lao động làm công việc theo quy định tại khoản 1 Điều này được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định".

        Như vậy, nếu công ty có lý do chính đáng theo đúng quy định pháp luật như trên thì được quyền tạm thời chuyển bạn làm công việc khác không đúng chuyên môn của bạn với thời gian là không quá 60 ngày làm việc. Nhưng khi chuyển bạn làm công việc khác, công ty phải thông báo cho bạn biết trước ít nhất 03 ngày làm việc. Việc công ty không thông báo trước cho bạn như vậy là không đúng quy định pháp luật.

       Ngoài ra việc công ty tự ý không trả lương cho bạn cũng như gây sức ép cho bạn là không đúng với quy định của pháp luật. Trong trường hợp này bạn có quyền yêu cầu Hòa giải viện của Phòng lao độngt thương binh xã hội tiến hành hòa giải hoặc kiện tại Tòa án theo quy định tại Điều 201 BLLĐ. Điều 201 BLLĐ quy định như sau:

"1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về lao động và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ trụ sở Luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật lao động.