Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật lao động của công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn về việc lấy sổ bảo hiểm xã hội?

Luật sư tư vấn lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với vấn đề này của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

Vì bạn không trình bày rõ, nhưng theo như dữ kiện mà bạn đưa ra thì chúng tôi có thể hiểu bạn thuộc trường hợp đã nghỉ việc ở công ty nhưng chưa được trả sổ BHXH. Vấn đề này chúng tôi xin tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Luật bảo hiểm xã hội năm 2006

Bộ luật Lao động 2012

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011

2. Nội dung phân tích:

- Về việc lấy sổ bảo hiểm xã hội 

     Theo quy định tại Điểm c - Khoản 1 - Điều 18 Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động:

1. Người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau đây:

c) Trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người đó không còn làm việc;

      Khoản 2 - Điều 47 Bộ luật Lao động 2012 cũng quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng:

Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30  ngày.

        Do đó, phía công ty bạn phải có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm và trả cho bạn. Hành vi người sử dụng lao động cố tình không trả số bảo hiểm xã hội cho bạn đúng thời hạn đã vi phạm pháp luật về thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội quy định tại khoản 2 Điều 135 Luật bảo hiểm xã hội - “không cấp sổ bảo hiểm xã hội hoặc không trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định của luật này”.

Vì vậy, nếu bạn có đầy đủ bằng chứng chứng minh phía doanh nghiệp thiếu trách nhiệm, cố tình chậm trễ việc trả sổ bảo hiểm xã hội, chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bạn thì bạn có thể làm đơn khởi kiện đến tòa án.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 31; điểm c khoản 1 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì “tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động” thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp huyện nơi doanh nghiệp đặt trụ sở. Như vậy, bạn có thể nộp đơn khởi kiện doanh nghiệp về việc chậm trả sổ bảo hiểm xã hội đến tòa án để giải quyết quyền lợi cho mình.

- Về việc bạn có được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần không.

Theo Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội có quy định về Bảo hiểm xã hội một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu như sau:

"1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c và e khoản 1 Điều 2 của Luật này được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;

b) Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;

c) Sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;

d) Ra nước ngoài để định cư.

2. Người lao động quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật này được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu". 

Do bạn không trình bày cụ thể, nên chúng tôi trích dẫn điều luật để bạn có thể tự đối chiếu với trường hợp của bạn. Nếu bạn được hưởng trợ cấp BHXH một lần thì mức hưởng như sau:

Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội quy định:

"Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội". 

Sau 12 tháng ngừng đóng Bảo hiểm xã hội bạn mới có thể nhận trợ cấp Bảo hiểm xã hội một lần. Mức trợ cấp Bảo hiểm xã hội 1 lần = 1,5 tháng lương bình quân đóng Bảo hiểm xã hội cho mỗi năm.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê