2. Nếu phải chịu phạt thì sẽ xử phạt trước hay sau khi người lao động về nước ?

3. Nếu bị xử phạt thì có xem xét về lý do tại sao lao động phải bỏ trốn khỏi nơi làm việc không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: H.T.B

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi:   1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn Chúng tôi xin được trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật người Việt Nam đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 

2. Nội dung phân tích:

1. Khoản 6 điều 3 Luật người Việt Nam đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 quy định: ". Bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài là việc người thứ ba (sau đây gọi là người bảo lãnh) cam kết với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho người lao động trong trường hợp người lao động không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài"

Khoản 3 điều 55 Luật người Việt Nam đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 quy định : "Trường hợp người lao động vi phạm Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và gây thiệt hại cho doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp mà người lao động không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thì người bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để bù đắp thiệt hại phát sinh do người lao động gây ra cho doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp. Sau khi bù đắp thiệt hại, nếu tài sản của người bảo lãnh còn thừa thì phải trả lại cho người bảo lãnh."

Như vậy trong trường hợp người lao động Việt Nam ở nước ngoài bỏ trốn khỏi nơi làm việc thì căn cứ vào khoản 3 điều 55 Luật người Việt Nam đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng năm 2006  người bảo lãnh có trách nhiệm dùng tài sản của mình bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận có trong hợp đồng bảo lãnh.

2. Điều 56 Luật người Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng quy định  thời hạn người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi người lao động ở nước ngoài vi phạm hợp đồng lao động như sau:

- Thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh do người bảo lãnh và doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp thoả thuận ghi trong hợp đồng bảo lãnh;

- nếu không thỏa thuận được thì người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong một thời hạn hợp lý do doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp ấn định tính từ thời điểm người bảo lãnh nhận được thông báo của doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho người lao động."

3. Khoản 3 điều 45 Luật  người Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng quy định : Người lao động có nghĩa vụ  "Làm việc đúng nơi quy định; thực hiện nội quy nơi làm việc và về nước sau khi chấm dứt Hợp đồng lao động hoặc Hợp đồng thực tập theo quy định của nước tiếp nhận người lao động;"

Theo khoản 5 điều 22 nghị định 141/2005/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý lao động của Việt Nam ở nước ngoài quy định trách nhiệm của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

"1. Nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, chính sách và phương thức tiếp nhận lao động nước ngoài của các nước để đề xuất với Chính phủ.

2. Hướng dẫn các doanh nghiệp tiếp cận thị trường, ký kết hợp đồng hợp tác lao động theo đúng pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.

3. Hỗ trợ cơ quan chuyên môn ở Việt Nam trong việc thẩm định các điều kiện và tính khả thi của các hợp đồng tiếp nhận lao động, tư cách pháp nhân của đối tác nước ngoài.

4. Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của đại diện các doanh nghiệp Việt Nam tại nước ngoài về trách nhiệm quản lý, xử lý các vấn đề phát sinh đối với người lao động.

5. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động làm việc ở nước ngoài; xử lý đối với hành vi vi phạm của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo quy định của Nghị định này.

6. Báo cáo và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết đối với những trường hợp có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật Việt Nam.

7. Phối hợp với các cơ quan chức năng Việt Nam và nước sở tại, với các doanh nghiệp đưa người lao động vi phạm về nước."

Như vậy việc thực hiện hợp đồng lao động, làm đúng nơi làm việc trong hợp đồng là nghĩa vụ của người lao động. Trường hợp người lao động bị bóc lột lao động, không được hưởng lương và các chế độ theo hợp đồng lao động có thể báo với cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài để nhận giúp đỡ mà không thể bỏ trốn khỏi nơi làm việc. Do đó việc tự ý bỏ trốn tại nơi làm việc vì bất kì lý do gì đều không được phép và người sử dụng lao động nước ngoài có thể yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh do người lao động vi phạm hợp đồng lao động.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và sử dụng dịch vụ tư vấn của Công ty chúng tôi!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh KHuê