Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Bộ phận luật sư tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê. Câu hỏi của bạn đã được chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật lao động năm 2012

- Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động

2. Nội dung tư vấn:

Khoản 3 Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 quy định

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Điều 156 Bộ luật lao động 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai, cụ thể như sau:

Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Thời hạn mà lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.

Áp dụng các quy định trên vào trường hợp của bạn, bạn làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, vì vậy bạn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất cứ khi nào nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp bạn là lao động nữ mang thai thuộc quy định tại Điều 156 thì thời hạn báo trước sẽ khác. Nếu bạn không thuộc trường hợp quy định tại Điều 156 nhưng lại đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không báo trước ít nhất 45 ngày thì sẽ bị coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều 41 Luật lao động 2012.

Vì bạn không nói rõ là sau khi nộp đơn xin nghỉ việc bạn có nghỉ việc luôn không hay vẫn còn đi làm tiếp, nên chúng tôi xin xét hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, bạn nộp đơn thôi việc và nghỉ luôn không đi làm nữa. Nếu vậy là bạn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật do vi phạm thời hạn báo trước. Do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 43 Luật lao động 2012 thì bạn sẽ không những không được trả lương cho tháng mà bạn nghỉ việc mà bạn còn phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của bạn trong những ngày không báo trước.

Trường hợp thứ hai, sau khi nộp đơn thôi việc, bạn chưa nghỉ việc ngay mà vẫn đi làm cho đến khi đủ thời hạn báo trước là 45 ngày rồi mới nghỉ việc thì được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật. Khi đó bạn vẫn sẽ được nhận lương cho những ngày đã làm việc và theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật lao động 2012, nếu bạn đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên thì bạn sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc - mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật lao động về nghỉ việc trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê